Năm Thánh 2010


Giáo Lý Cộng Đồng


Năm Linh Mục

 


Giờ Lễ


 


Sunday Mass in English


Thánh Nhạc


Nối Kết

Tòa Thánh Vatican

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

Uỷ Ban Mục Vụ Gia Đình 

Ủy Ban BAXH - Caritas VN

Ủy Ban Kinh Thánh

Ủy Ban Mục Vụ Di Dân

Uỷ Ban Truyền Thông Xã Hội

Tổng Giáo Phận Hà Nội

Tổng Giáo Phận Huế

Tổng Giáo Phận TP.HCM

Giáo Phận Lạng Sơn

Giáo Phận Hải Phòng

Giáo Phận Thái Bình

Giáo Phận Thanh Hóa

Giáo Phận Vinh

Giáo Phận Nha Trang

Giáo Phận Mỹ Tho

Giáo Phận Đà Lạt

Giáo Phận Vĩnh Long

Giáo Phận Ban Mê Thuột

Giáo Phận Phú Cường

Giáo Phận Phan Thiết

Giáo Phận Long Xuyên


Bản đồ truy cập

 
Chuyên mục » Năm Thánh 2010 » Văn kiện, Thông cáo Hôm nay la 08-09-2010 04:23
Góp ý cho Năm thánh 2010: Dân Chúa hiệp thông trong tình bác ái và giáo luật
2009-10-29 12:48:58

Góp ý cho Năm thánh 2010: Dân Chúa hiệp thông trong tình bác ái và giáo luật (1)
 
 

Thư Hội đồng Giám mục Việt Nam (đề ngày 17.04.2009) gửi Cộng đồng Dân Chúa về việc chuẩn bị Năm Thánh 2010 đã kêu gọi toàn thể Dân Chúa tham gia vào việc cử hành Năm Thánh bằng nhiều hình thức, trong đó có việc đóng góp ý kiến cho Ban Tổ chức Năm Thánh. WHĐ vừa nhận được bài góp ý của một độc giả gửi đến, xin đăng tải để cùng trao đổi và suy nghĩ trong tinh thần hiệp thông của Giáo Hội. Bài góp ý khá dài sẽ đăng trong 4 kỳ.

DÂN CHÚA HIỆP THÔNG TRONG TÌNH BÁC ÁI VÀ GIÁO LUẬT

Dân Chúa ở Việt Nam đang phấn khởi sửa soạn Đại hội Dân Chúa trong chương trình Năm Thánh 2010.

Một trong mục tiêu căn bản của Đại hội là:

GIÁO HỘI TẠI VIỆT NAM:

Mầu nhiệm - Hiệp thông - Sứ vụ

“Chủ đề này được triển khai theo 3 chủ điểm lớn sau đây:

- Giáo Hội mầu nhiệm, với chức năng ngôn sứ và tư tế (mục vụ Thánh Kinh, Lời Chúa, giáo lý đức tin, Phụng tự, lòng đạo đức bình dân, kinh sách)

- Giáo Hội hiệp thông, với chức năng mục tử (mục vụ tổ chức và điều hành giáo phận, giáo xứ, dòng tu, tu hội, các tổ chức mục vụ, các đoàn thể tông đồ giáo dân, tạo tương quan liên đới, đối thoại, hợp tác, đối nội, đối ngoại).

-  Giáo Hội sứ vụ, với chức năng thi hành sứ vụ yêu thương và phục vụ cho Tin Mừng và cho sự sống dồi dào của mọi người, đặc biệt người kém may mắn, bị bỏ rơi (mục vụ truyền giáo, văn hóa giáo dục, y tế, bác ái xã hội, phát triển, di dân)”1.

Hình mẫu của hiệp thông, “Giáo Hội hiệp thông: đào sâu mối hiệp thông giữa cộng đoàn tín hữu với Thiên Chúa trong Đức Ki-tô nhờ Chúa Thánh Thần, củng cố sự hiệp thông giữa các thành phần Dân Chúa, giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân, trong mỗi Giáo Hội địa phương, hiệp thông giữa các Giáo Hội địa phương với nhau cũng như với Giáo Hội toàn cầu”2.

 Để thực hiện tốt đẹp Giáo Hội hiệp thông, Đại hội sẽ nghiên cứu những chức năng mục tử: mục vụ tổ chức và điều hành Giáo Phận, Giáo xứ, Dòng tu, Tu hội, các tổ chức mục vụ, các đoàn thể tông đồ giáo dân, tạo tương quan liên đới, đối thoại, hợp tác, đối nội, đối ngoại.”

Trong giai đoạn chuẩn bị Đại Hội, mọi thành phần Dân Chúa được tham khảo ý kiến của mọi thành phần dân Chúa trước hết “nhằm giúp cho HĐGM phát hiện những vấn đề cần được đưa ra bàn thảo trong Đại hội Dân Chúa Việt Nam năm 2010. Đồng thời còn nhằm làm cho mọi thành phần Dân Chúa trong các Giáo Hội địa phương cảm nhận rằng họ có liên hệ mật thiết với Đại Hội”3.

Trong bài góp ý chân thành này, chúng tôi mạo muội đề nghị dâng lên Đại Hội một khuôn vàng thước ngọc, trong đó có quy tắc thánh thiện và bác ái quy về việc thực hiện sự Hiệp thông trong nội bộ Giáo Hội Việt Nam, cũng như giữa Giáo Hội Việt Nam với Giáo Hội hoàn vũ: Khuôn vàng thước ngọc đó có danh hiệu mỹ miều là Văn Kiện Vatican II và Bộ Giáo Luật 1983.

Theo Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong Tông Hiến Sacrae Disciplinae Leges ban hành bộ Giáo Luật mới ngày 25 tháng giêng 1983, “Bộ Giáo Luật rất cần cho Giáo Hội. Vì được tổ chức như một xã hội hữu hình, Giáo Hội cũng cần có những quy tắc: hoặc để phân định rõ rệt cơ cấu phẩm trật và cơ cấu tổ chức, hoặc để tổ chức cách xứng hợp việc thi hành các nhiệm vụ được Thiên Chúa trao phó… hoặc để điều chỉnh mối tương quan giữa các tín hữu với nhau dựa trên công bình và bác ái nhờ việc xác định và bảo đảm quyền lợi của cá nhân; sau hết để nâng đỡ, củng cố và cổ vũ những sáng kiến chung nhắm tới một đời sống Ki-tô-giáo càng ngày càng hoàn thiện hơn nhờ Giáo Luật4.

Hiệp thông theo Giáo Luật là sống trong tinh thần hòa hợp và tôn trọng lẫn nhau như con cái sự sáng: “Giờ đây không còn được phép không biết luật nữa: các mục tử có được những quy luật chắc chắn để điều hành đúng đắn công việc mục vụ; từ nay mọi người có đủ tư cách để nhận biết quyền lợi và nhiệm vụ riêng mình, và cái lối làm theo ngẫu hứng được bịt lại; những lạm dụng xâm nhập vào đời sống kỷ luật Giáo Hội vì thiếu luật, có thể dễ dàng được tẩy trừ và ngăn chặn; và sau cùng, tất cả các việc tông đồ được thiết lập hay khởi sự, chắc chắn có được chỗ dựa để tiến triển và bành trướng, vì một trật tự phát huy lành mạnh là tuyệt đối cần thiết để cộng đồng Giáo Hội cường thịnh, thăng tiến và triển nở5.

 Mấy dòng chính xác trên nói lên giá trị cơ bản của Giáo Luật trong việc thể hiện sự Hiệp thông cần thiết trong mối liên hệ hữu quan giữa các thành phần trong Giáo Hội. Nếu dân một nước cần “sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” thì mọi tín hữu, từ người bé nhất trong Giáo Hội đến các mục tử, cũng phải biết và thực hành Giáo luật, không ai được phép làm việc theo ngẫu hứng, để mọi hoạt động của Dân Chúa diễn tả trung trực và chân chính các giáo huấn của Công Đồng Vatican II, nhất là Giáo Hội là Dân Chúa, và mọi quyền bính và phẩm trật chỉ là để phục vụ, cũng như giáo lý về Hiệp thông hỗ tương giữa các thành phần, cũng như về sự dấn thân của Dân Chúa vào phong trào Đại kết. Xã hội văn minh là một xã hội pháp quyền. Giáo Hội qua bao nhiêu thế kỷ cũng là một xã hội pháp quyền, có văn hóa, vì các phần tử nối kết với nhau trong trật tự, công bình và bác ái, nhờ những cơ chế được tồn tại và canh tân qua các thế hệ.

Vì thế, các luật lệ của Giáo Luật tự bản tính đòi buộc phải được tuân giữ”. Vì “vô tri bất mộ”, Đức Giáo Hoàng kêu gọi tất cả mọi tín hữu “tìm hiểu và lĩnh hội tường tận những quy định” và “tuân thủ những quy tắc đã được đề xuất với một tâm hồn chân thành và thiện chí trong niềm hy vọng rằng kỷ luật canh tân của Giáo Hội sẽ lại khởi sắc, để phần rỗi các linh hồn càng ngày càng được cổ vũ, nhờ sự trợ giúp của Đức Trinh Nữ MARIA, Mẹ của Giáo Hội”6.

Chương trình Hiệp Thông của Đại Hội 2010 là: “đào sâu mối hiệp thông giữa cộng đoàn tín hữu với Thiên Chúa trong Đức Kitô nhờ Chúa Thánh Thần, củng cố sự hiệp thông giữa các thành phần Dân Chúa, giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân, trong mỗi Giáo Hội địa phương, hiệp thông giữa các Giáo Hội địa phương với nhau cũng như với Giáo Hội toàn cầu”7.

Chúng tôi xin phép dành việc “đào sâu mối Hiệp thông với Thiên Chúa” cho nhà thần học vị vọng. Tuy nhiên, chúng tôi mong rằng những điều chúng tôi bàn sau đây cũng giúp dân Chúa hiệp thông mật thiết với Chúa là Tình Yêu, vì “đức vâng lời trọng hơn của lễ.” Trong những trang này, để đáp ứng lời mời gọi của Hội Đồng Giám mục Việt Nam8, chúng tôi chỉ xin suy nghĩ về ba khía cạnh:

1. Củng cố sự hiệp thông giữa các thành phần Dân Chúa, giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân, trong mỗi Giáo Hội địa phương;

2. Hiệp thông giữa các Giáo Hội địa phương với nhau;

3. Hiệp thông với Giáo Hội toàn cầu.

Phần I

 Hiệp thông trong Giáo Hội địa phương

Giáo Hội Việt Nam hiện nay gồm 26 Giáo Phận. Mặc dầu là một thực thể Giáo Hội, mỗi Giáo Hội địa phương9, là một bộ phận Dân Chúa trao phó cho một mục tử tức là Giám Mục với sự cộng tác của linh mục đoàn (GL. 369). Trong Giáo Phận có ba thành phần: 1) Giám Mục; 2) Linh mục đoàn và phó tế; c) dân Chúa.

Sự hiệp thông của ba thành phần này là sức sống của Giáo Hội địa phương.

Giáo Luật cống hiến cho Chương trình Đại Hội 2010 đầy đủ chi tiết, chỉ cần biết khai thác trong khiêm nhu và chân thành. Đây không phải là một khám phá của chúng ta, mà là một “mâm cơm” đã dọn sẵn, chúng ta phải nghiên cứu thế nào để đáp ứng lời mời rất phụ tử của Thiên Chúa: “Hỡi những người đang khát, hãy đến, nước đã sẵn đây! Dầu không có tiền bạc, cứ đến mua; mua rượu mua sữa, không phải trả tiền… Hãy chăm chú nghe Ta, thì các người sẽ được ăn ngon, được thưởng thức cao lương mỹ vị10.

A. Hiệp thông giữa GM và dân Chúa nói chung:

 Trong Giáo Phận, Giám Mục không phải là đại diện Giáo Hoàng (như nhiều người còn lầm tưởng), nhưng là người nối nghiệp các Tông đồ11, ngài là mục tử được Chúa trao nhiệm vụ săn sóc đoàn chiên, như người cha nhân lành đến để hầu hạ con nhiên chứ không để được hầu hạ, biết con chiên, nhận biết tiếng chiên vì ngài là đại diện tình yêu Chúa Ki-tô12. Sứ vụ của Giám Mục là phục vụ (diaconia), phục vụ dân Chúa trong mọi lãnh vực của cuộc sống: phục vụ Tin Mừng trong công tác giảng dạy chân lý Cứu độ; phục vụ đời sống thiêng liêng qua các Bí tích; phục vụ đời sống thế trần qua việc bác ái. Trước hết với tính cách mục-tử là thầy tối cao trong Giáo Phận, nên Giáo Luật đòi Giám Mục phải thật giàu kiến thức về đạo, về Giáo-hội-học13 để chuyên cần dạy dỗ con chiên (GL.386; 762-780) và bảo vệ Đức tin; là cha thiêng liêng, ngài cầu nguyện và hoạt động cùng với dân thánh, thánh hóa mọi người bằng gương sáng đời sống bác ái, khiêm nhượng và đơn sơ (GL.387); là quản lý trung thành, ngài có trách nhiệm quản trị Giáo Phận về mọi phương diện, và có trách nhiệm đưa Bác ái và Tin Mừng đến mọi người trong địa giới, nhất là những anh chị em chưa biết Chúa, những người bất hạnh, những người vô gia cư v.v. (GL.383). Để chu toàn nghĩa vụ này, Giám Mục phải có mặt trong địa phận ít nhất 11 tháng trong một năm (GL.395) và thường xuyên kinh lý, thăm viếng các giáo xứ, các tổ chức, các đoàn thể tôn giáo, cũng như nhóm họp hội nghị Giáo Phận; Giám Mục thường xuyên làm mục vụ theo những cơ chế rõ rệt và với những cộng tác viên được chỉ định theo Giáo Luật: như linh mục đoàn (GL.369; 495, 499), Ủy ban Cố vấn (GL.502), Hội đồng tài chính (GL.492, 537, 1278, 1281, 1292), người quản lý Giáo Phận (GL. 494), tòa án đệ nhất cấp (GL.1420-1427), Hội đồng mục vụ gồm giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân để cộng tác với Giám Mục (Christus Dominus, 27; GL.511-515). Tuy là người có quyền lập pháp (GL. 91, 466), hành chính (GL.391, 1740-1752) và hành pháp (GL.1315), Giám Mục không được vượt quá những quyền hạn đã ghi trong Giáo Luật.

Vài nét chính của Công Đồng và Giáo Luật, chúng tôi vừa ghi ở trên, cho thấy Hiệp Thông trong Giáo Hội địa phương bắt nguồn từ Giám Mục, người có nhiệm vụ tạo mối hiệp thông đó trong đối thoại chứ không bằng quyền bính. Nhưng người mục tử không thể đối thoại nếu coi thường những cơ chế có tính cách cộng đồng (vì cộng đồng Dân Chúa là mạng lưới hữu hình của một xã hội thần linh và thiêng liêng – gọi là Giáo Hội hữu hình ở trần thế).

B. Hiệp thông giữa Giám mục và Linh mục14

Trong chương trình hiệp thông, qua những cơ chế pháp định, Giám Mục làm việc với những cộng tác viên, giáo sĩ hay giáo dân. Chính để cổ võ tinh thần hiệp thông, mà Giáo Hội nhấn mạnh đến truyền thống hiện hữu từ thế kỷ thứ 2, Giám Mục phải thảo luận, bàn hỏi các linh mục như cha bàn hỏi các con, như anh bàn hỏi các em, như bạn thân bàn hỏi người tri kỷ15. Đầu thế kỷ thứ hai vào năm 107-110, trong các thư gửi các Giáo Hội Magnesia, Ephêso, Smyrna, Thánh Giám mục Polycarpô, Giám mục Antiôchia, nhấn mạnh đến Giáo Hội như một gia đình thánh trong đó Giám Mục là người cha, linh mục đoàn như cộng đoàn các tông đồ, và các phó tế như những người thừa hành các mầu nhiệm của Chúa Ki-tô cùng với Giám Mục và linh mục đoàn”. Theo Thánh Ignatiô, vị nối nghiệp trực tiếp các Tông đồ, Giám Mục (episcopos ) hợp nhất với linh mục đoàn, và mọi tín hữu phải hợp nhất với các Ngài để thực hiện Giáo Hội thánh thiện và duy nhất16. Thánh Cyprianô, Giám mục Carthage (249-258) cũng tuyên bố:“nguyên tắc của tôi là không tự ý làm gì, nếu không hỏi ý kiến các linh mục và nếu không được cộng đồng tín hữu đồng ý17. Để thực hiện sự hiệp thông có tính cách hữu cơ đó, Giáo Luật hiện hành đặt ra những cơ chế cần thiết để dân Chúa được hưởng các hồng ân của Chúa chẳng những qua các bí tích, mà qua công tác mục vụ thân tình của những vị có chức thánh. Vì thế sự hiện diện đích thực và linh động của Linh mục đoàn (GL.369; 495 § 1; 499) là dấu hiệu sự có mặt của Thánh Linh trong Giáo Hội18. Giám Mục hiệp thông với linh mục, nhất là linh mục quản xứ, như với những cộng tác viên thân tình, như những cánh tay nối dài trong mục vụ cùng lo việc chung của Giáo Hội, như những môn đệ Chúa cộng tác với nhau trong tình huynh đệ vì cùng thông công một chức thánh.19

Riêng với linh mục quản xứ (cha xứ, cha sở), các ngài là mục tử một xứ đạo dưới quyền Giám Mục Giáo Phận (GMGP) và cùng chia sẻ với ngài sứ vụ của Chúa Kitô để giáo huấn, thánh hóa và quản trị đoàn chiên (GL.519 và sắc lệnh Christus Dominus, 30). Linh mục quản xứ được coi như cánh tay phải của Giám Mục trong mỗi xứ đạo; sứ vụ của ngài được Giáo Luật bảo vệ, nhất là trong những trường hợp “cách chức” hay “đổi xứ ”. Cha xứ một khi được Giám Mục cắt đặt ở giáo xứ nào, chính thức là “mục tử riêng” (pastor proprius) của cộng đồng giáo xứ đó, dưới quyền Giám Mục, trong “thời gian vô hạn định” (stabilitate gaudeat ad tempus indefinitum)20 nhưng Hội Đồng Giám Mục mỗi nước, vì lý do mục vụ, có quyền hạn định tùy nghi. Sự hiệp thông giữa cha xứ và Giám Mục trong chương trình mục vụ giáo xứ là một dấu hiệu hiệp nhất vì lợi ích của Dân Chúa. Giám Mục chỉ có thể cách chức cha xứ vì lý do rất nghiêm trọng, khi vị này bất lực trong công việc hay sự có mặt của ngài gây nguy hiểm cho giáo dân (GL.1740-1741). Trong những trường hợp trên, Giám mục phải khuyên nhủ và chỉ dụ cho đương sự tự ý xin từ chức, và nếu đương sự không chịu, thì phải có nghị quyết cách chức sau khi đã bàn hỏi với đại diện của linh mục đoàn (GL.1742-1747). Trong trường hợp đổi xứ, Giám Mục không có quyền tùy tiện đổi cha xứ, nhưng chỉ thuyên chuyển trong kỳ hạn được Hội Đồng Giám Mục quy định – thường thường 5 hay 6 năm (GL.522); Giám Mục có quyền thuyên chuyển ngoài kỳ hạn đó vì lý do quan trọng liên quan đến lợi ích các linh hồn. Trong trường hợp thuyên chuyển ngoài kỳ hạn do Hội Đồng Giám Mục quy định, Giám Mục phải giải thích trên văn bản lý do và yêu cầu sự đồng ý của cha xứ (GL.1748-1752). Về phương diện hành xử, Giám Mục chỉ có quyền “treo chén” linh mục khi có lý do hết sức nghiêm trọng, và tuân theo các quy định rất chặt chẽ trong Giáo Luật21 (GL.1333-1335 ).

Qua những trường hợp cụ thể trên, chúng ta thấy sự Hiệp thông Giám Mục và Linh mục là trục chính trong guồng máy của Giáo Phận. Chính nguyên lý hiệp thông này là căn bản của sự hợp nhất của linh mục đoàn trong mục vụ chung của Giáo Phận. Mỗi Giáo Phận phải có một Ủy ban linh mục đại diện linh mục đoàn, đa số do các linh mục bầu lên, để nâng đỡ Giám Mục trong công tác mục vụ (GL.495 -497). Ủy ban linh mục có quyền góp ý trong các công nghị Giáo Phận, Giáo Hạt (GL.463); một số linh mục trong Ủy ban linh mục (ít nhất 6 người), sẽ được Giám Mục chọn làm Ban Cố vấn Giáo Phận (GL.502). Vì không thi hành Giáo Luật, vô tình hay hữu ý, có những căng thẳng giữa Giám Mục và linh mục, và việc chuyển xứ đôi khi bị coi là hình phạt hơn là lợi ích các linh hồn.

 

 

 

C. Hiệp thông giữa giáo sĩ và giáo dân

Nhờ Công Đồng Vatican II, sự hiệp thông của hàng giáo phẩm với giáo dân được sáng tỏ hơn trước nhiều. Theo Công Đồng, một mặt giáo dân đón nhận nơi giáo sĩ những ơn ích thiêng liêng qua Lời Chúa và Bí tích, mặt khác, với tinh thần tự do của con cái Chúa và tình huynh đệ trong Chúa Ki-tô, giáo dân trình bày cho các nhà lãnh đạo biết những nhu cầu và ao ước của mình, đóng góp tài năng trí tuệ để xây dựng Giáo Hội22. Giáo dân không chỉ là người đón nhận mà còn là người tham gia sứ vụ tư tế, tiên tri và vương giả của Đức Kitô23, và nhất là có quyền tham dự vào sứ mạng của Giáo Hội, quyền cổ vũ và nâng đỡ hoạt động tông đồ, kể cả bằng những sáng kiến riêng, tùy theo bậc sống và hoàn cảnh mỗi người (GL.216), có nghĩa vụ tham gia các hoạt động mục vụ và tông đồ của Giáo Hội, trong môi trường Giáo xứ, Giáo Phận, hoặc khi có khả năng trong cả Giáo Hội phổ quát (GL.225); có quyền hoạt động để cho sứ điệp cứu độ càng ngày càng được truyền đạt tới toàn thể nhân loại, trong mọi thời và mọi nơi (GL.211); và có quyền thành lập và điều hành các hiệp hội có mục đích từ thiện hoặc đạo đức, quyền tự do hội họp để theo đuổi các mục đích đó (GL.215); có quyền hấp thụ nền giáo dục Ki-tô-giáo, được đào tạo thích đáng để đạt tới sự trưởng thành nhân bản, đồng thời, để biết và sống mầu nhiệm Phúc Âm (GL.217).

Nhất là trong lãnh vực trần thế, giáo dân đóng vai trò chính của Giáo Hội tức là làm chứng về Chúa Kitô qua những công tác đặc thù và thánh hóa xã hội trong các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, cũng như loan báo Tin Mừng nơi anh em chưa biết Chúa24 trong môi trường tông đồ giáo dân và “truyền giáo”, hay tham gia hoặc tổ chức các công tác xã hội nâng đỡ những anh chị em sống trong những trường hợp khó khăn, thiếu thốn, bất hạnh về thân xác, về đời sống kinh tế v.v. Việt Nam25. Trong lãnh vực trần thế, giáo dân có quyền tự do trong sự lựa chọn chính trị hay định hướng x hội, miễn l tơn trọng sự tự do chính trị và trách nhiệm của mọi người26; có quyền và nghĩa vụ cổ vũ và thăng tiến quyền con người trong cuộc sống xã hội đđể mọi hành động của người Ki-tô hữu được thấm nhuần tinh thần Bác ái Phúc Âm.(GL.227).

Giáo Luật 1983 quy định một số chi tiết cụ thể về vai trò của giáo dân không có chức thánh, trong một sứ vụ phụng tự, mục vụ, hành pháp. Theo Giáo Luật hiện hành, giáo dân có quyền tham dự trong:

- Phụng tự:

a/ thừa tác viên trong Bí tích Thánh Tẩy (GL.861 § 1);

b/ thừa tác viên trao Mình Thánh trong Thánh lễ, hay cho kẻ liệt (GL. 230 § 3; 910 § 2);

c/ thừa tác viên trong nghi thức Chầu Thánh Thể (GL.943);

d/ đại diện chính thức của Giáo Hội nhận lời hôn ước (GL.1112);

e/ thừa tác viên thực hiện một số á-bí-tích (GL.1168).

- Mục vụ:

a/ quản lý Giáo Phận (GL.494);

b/ quản trị tài chính của Giáo Hội (GL.1282);

c/ giáo lý viên (GL.776);

d/ thừa sai truyền giáo ( GL.784-785).

e/ công tác, cố vấn trong những sứ vụ và tác vụ trong Giáo Hội (GL. 2280).

f/ thành viên trong Hội đồng mục vụ giáo xứ, Giáo Phận (GL.512; 536).

g/ công tác bác ái xã hội (GL.839 § 1).

- Hành pháp:

a/ thẩm phán trong Giáo Phận (GL.1421 § 2);

b/ phụ thẩm, công tố viên, trạng sư trong tòa án đạo (GL.1424, 1428, 1434).

Qua các khoản luật trên, cũng như trong một số trường hợp khác, giáo dân chẳng những có thể được trao các sứ vụ từ xưa đến nay dành cho giáo sĩ, mà trong những trường hợp đặc biệt thiếu linh mục, giáo dân có thể thay linh mục, trừ những công tác dành cho người có chức thánh (thí dụ dâng lễ, giải tội).

Sự hiệp thông giữa giáo sĩ và giáo dân, trong tinh thần mới, xóa bỏ dần dần sự phân cấp và lợi dụng (hay lạm dụng) quyền bính trong Giáo Hội mà căn tính của quyền bính không phải là quyền lực mà là phục vụ27. Hơn thế, thực tế cho thấy, trong rất nhiều lãnh vực và trường hợp, giáo dân có khả năng hơn giáo sĩ chẳng những về khoa học, văn hóa, mà cả về trí thức đạo. Trong môi trường canh tân Giáo Hội, khi giáo dân làm công tác quản lý tài chính cho Giáo Phận hay Giáo xứ, các Giám mục, linh mục quản xứ khỏi phải vương vấn, lo lắng về tiền bạc và tránh những “tai tiếng” thường xảy ra trong lãnh vực khá tế nhị này. Nhất là trong hoàn cảnh khan hiếm linh mục, khi giáo dân đủ tài đức giữ các chức chưởng ấn, trưởng ban thánh nhạc, phụ trách các sứ vụ bác ái xã hội, trưởng ban mục vụ trong một số công tác không cần chức linh mục: môt mặt Giáo Phận chứng tỏ giáo dân đã trưởng thành và tham gia vào chương trình chung, mặt khác giáo sĩ có thêm thời gian thao luyện về các khóa học thánh và dấn thân làm các công tác Phúc âm hóa.

D. Hiệp thông giữa cha sở (cha xứ) và giáo dân xứ đạo

Cha xứ là người được GMGP ủy thác săn sóc mục vụ một giáo xứ (GL.515-552).

1.      Trong lãnh vực mục vụ thánh chức (GL.528 ), cha sở bắt buộc phải:

a) rao giảng lời Chúa một cách trọn vẹn, nhất là trong các thánh lễ chủ nhật và lễ buôc, và trong việc dạy giáo lý;

b) ủng hộ những chương trình cổ động tinh thần Phúc Âm, kể cả trong lãnh vực công bình xã hội;

c) đặc biệt lo giáo dục công giáo cho trẻ em, thanh thiếu nhi ;

d) cố gắng, bằng mọi phương tiện có thể, hợp tác với các tín hữu loan báo Tin Mừng tới những người không còn sống đạo (giữ đạo), hay không còn tin đạo;

e) cố gắng để Thánh Thể là trung tâm quy tụ giáo dân;

f) làm sao cho cộng đoàn giáo xứ sốt sắng cử hành các bí tích nhất là bí tích Thánh Thể và Hòa giải;

g) hướng dẫn giáo dân cầu nguyện riêng hay trong gia đình, tham dự tích cực các việc phụng tự, nhưng canh chừng các lạm dụng trong các việc đạo đức.

2.      Trong lãnh vực mục tử, ngoài các mục vụ bí tích (GL.529, 530), cha sở có nghĩa vu phải:

a) biết các con chiên trong giáo xứ, thăm viếng các gia đình, san sẻ những lo lắng, ưu tư nhất là khi gia đình có tang tóc, hay có bệnh nhân hấp hối;

b) nâng đỡ họ, sửa bảo họ một cách khôn khéo khi họ mắc lỗi lầm;

c) ân cần giúp đỡ những người nghèo khổ, bệnh tật, cô đơn, tha hương, bị bỏ rơi và tất cả những ai đặc biệt khó khăn;

d) nâng đỡ những người trong bậc vợ chồng, cha mẹ để họ tăng trường đời sống Ki-tô-giáo trong gia đình;

e) nâng đỡ, cổ động các hiệp hội giáo dân hoạt động trong lãnh vực tôn giáo;

f) cộng tác với GMGP và Hội đồng linh mục và khuyến khích giáo dân duy trì sự hiệp thông trong Giáo xứ, trong Giáo Phận và trong Giáo Hội phổ quát;

g) tận tâm tham gia và cổ võ giáo dân tham gia các hoạt động loan báo Tin Mừng cho người ngoài công giáo (quen gọi là truyền giáo);

h) nâng đỡ các hoạt động tông đồ của giáo dân, trong lãnh vực xã hội28.

 Dĩ nhiên, cha sở vẫn là người cha, người anh trong cộng đồng Giáo xứ, và tránh những cách cư xử đôi khi phản Phúc Âm thường được giáo dân nhắc tới. Xin đan cử một ý kiến của một chuyên viên nước ngoài29.

 E. Hiệp thông giữa Giám mục, linh mục và tu sĩ:

Dòng tu và các cộng đoàn mang những danh hiệu khác nhau như tu hội đời, cộng đoàn tận hiến là thành phần Dân Chúa, ưu tú vì coi như được Chúa lựa chọn một cách đặc biệt, được giáo dân tôn trọng và quý mến. Tuy không thuộc về phẩm trật Giáo Hội, thường gọi là Giáo phẩm, công tác của tu sĩ có một mức độ rất quan trọng nhất là trong những Giáo Phận ít linh mục.

Ở Việt Nam, sự có mặt của tu sĩ trong Giáo Phận không đồng đều, vì có Giáo Phận con số dòng tu nam nữ phải kể hàng chục, có Giáo Phận chỉ có một hay hai. Vấn đề hiệp thông tuy nặng nhẹ khác nhau, nhưng thể hiện như nhau. Tu sĩ là những người có đặc sủng theo sát Chúa cầu nguyện, hoặc loan báo Nước Trời, hay làm việc thiện giữa người trần hay sống giữa người đời hầu thực hiện thánh ý Cha (GL.577). Tuy bậc tu sĩ nam hay nữ, chiêm niệm hay hoạt động tông đồ, không thuộc về cơ chế giáo phẩm trong Giáo Hội30, nhưng thuộc về đời sống thánh thiện của Giáo Hội vì đề cao những lời khuyên đặc biệt của Phúc Âm31.

Trong Giáo Hội có những Dòng tu thuộc quyền Giáo Hoàng32, có những Dòng tu thuộc quyền Giáo Phận33. Theo truyền thống, các Dòng tu thuộc quyền Giáo Hoàng được hưởng một số đặc miễn, nhưng từ Công Đồng Vatican II và Giáo Luật 1983, các quyền miễn đó chỉ áp dụng trong việc quản trị nội bộ, còn các sứ vụ tông đồ trong lãnh vực phụng tự, rao giảng lời Chúa, giáo dục tôn giáo, công tác mục vụ, các tu sĩ phải hoạt động dưới quyền Giám Mục Giáo Phận34. Trong các sứ vụ đó, dĩ nhiên cần phải có sự hiệp thông, nhất trí giữa GMGP và Bề Trên các Dòng, dù là Dòng thuộc Giáo Hoàng35 Các Dòng tu thuộc quyền Giáo Phận được đặt trong sự quan tâm đặc biệt của Giám Mục Giáo Phận: ngài phải lưu ý bảo toàn và tôn trọng hiến chương, linh đạo và sự tự trị chính đáng của các dòng tu này (GL.586; 594).

Chúng tôi được biết, đã có sự hiểu nhầm đôi khi rất trầm trọng, và rất đáng tiếc, trong một số Giáo Phận, vì nhiều người vẫn áp dụng Giáo Luật 1917, theo đó Giám Mục Giáo Phận có toàn quyền trên các Dòng thuộc quyền Giáo Phận.

Trong Giáo Luật cũ năm 1917, điều 492 §2, khi nói về Dòng Tu thuộc quyền Giáo Phận, (mặc dầu Dòng tu đó phát triển trong nhiều giáo phận): theo luật, Dòng tu này phải hoàn toàn tùng phục thẩm quyền Đấng Bản Quyền (Ordinariorum jurisdictioni ad normam juris plane subjecta); tuy nhiên cả trong Giáo Luật cũ, sự phục tùng đó vẫn không tùy tiện, nhưng theo luật (ad norman juris), nghĩa là chỉ phải tùng phục Giám Mục trong những trường hợp Luật chỉ định. Giáo Luật 1983 bỏ hẳn điều này (có lẽ để tránh nhiều lạm dụng quyền bính trong quá khứ), và thay thế bằng điều 594 của Giáo Luật mới:“Hội Dòng thuộc quyền Giáo Phận… được đăt dưới sự quan tâm đặc biệt của Giám Mục Giáo Phận(permanet sub speciali cura Episcopi dioecesani). Thế nào là quan tâm36 đặc biệt ? “Quan tâm đặc biệt” đòi Ngài phải chú ý theo đường hướng Giáo Luật, vì thế mặc dầu đôi khi phải dùng quyền mà Giáo Luật cho phép, không phải vì ngài là Bề Trên, nhưng vì ngài giữ vai trò “giám sát”.

Theo tinh thần Giáo Luật mới, dù Giám Mục là người sáng lập Dòng đi nữa, Giám Mục Giáo Phận (GMGP) không được phép giữ chức Bề Trên Tổng Quyền, hay Bề Trên nhà. Nếu có trường hợp này, thì đó là lạm dụng đáng tiếc, và phải tố cáo với cấp trên có thẩm quyền. (qui abusus auctoritati competenti est denuntiandus). Khi Dòng được thiết lập, ngài phải chọn một Bề Trên cho Hội Dòng, và Bề Trên đó phải là thành viên của Hội Dòng. Điều này phải đđược tuân giữ, cả trong các miền truyền giáo37 !

Chúng tôi đã có dịp bàn, một cách chi tiết, về vấn đề hiệp thông giữa Giám Mục và Tu sĩ. Xin phép ghi ở dây một số nét chính:

A. Theo thánh chức của mình, GMGP có nhiệm vụ:

a/ trước tiên, thánh hóa Dòng tu, cũng như các cơ chế “thánh hóa” khác đối với giáo sĩ cũng như giáo dân (GL.207 §1 &2) mặc dầu Dòng tu không thuộc về cơ cấu Giáo phẩm của Giáo Hội (licet ad hierarchiam Ecclesiae non spectet (GL.207§2).

b/ bảo quản các cơ chế thực hiện các lời khuyên Phúc Âm như hồng ân Chúa ban cho Giáo Hội (GL.575);

c/ thăng tiến và bảo vệ gia tài các Dòng tu (GL.578);

d/ tôn trọng và bảo vệ sự tự trị của Dòng tu (GL.586 §2).

e/ kinh lý Dòng tu (GL.628 §2);

f/ kiểm tra để các tài sản của Dòng tu (vì là pháp nhân công trong Giáo Phận) được quản lý một cách cẩn thận (GL.1276), mặc dầu tài sản đó không trực tiếp thuộc về ngài;

B. Trong lãnh vực hoạt động tông đồ, theo Công Đồng Vatican II, Dòng tu có nhiệm vụ hoạt động hết sức và hết lòng để xây dựng và phát triển nhiệm thể Chúa Kitô vì lợi ích của các Giáo Hội địa phương, và như vậy phải cộng tác với các GMGP38.

 Về phần GMGP, ngài có những nhiệm vụ:

a/ nhắc nhở các tu sĩ nghĩa vụ hoạt động tông đồ ngoài đời (GL. 679);

b/ tổ chức sự cộng tác giữa các dòng tu với nhau và với giáo sĩ triều (GL. 680);

c/ ký hợp đồng với các Bề trên dòng tu trong các công tác mà GMGP ủy thác cho dòng tu, về công tác, về nhân sự cũng như về việc đóng góp tài chính (GL. 681- 682);

d/ kiểm tra các trường học, các cơ sở xã hội, bac ái của dòng, và nếu có chi lạm dụng, ngài phải cho Bề trên dòng biết, và nếu vị này không giải quyết thì ngài có quyền giải quyết (GL. 683).

C. Theo thánh chức và thẩm quyền, GMGP có quyền:

a/ thiết lập dòng tu thuộc Giáo phận (GL. 579);

b/ chấp nhận Hiến Pháp, chấp thuận sự thay đổi Hiến Pháp, hay trong trường hợp đặc biệt miễn chuẩn thi hành Hiến Pháp (GL. 595);

c/ cho phép thiết lập một tu viện, giấp phép có chữ ký của Giám Mục (GL.609 §1), cho phép các thành viên sống trong tu viện đó sống theo quy luật của mình (GL. 611, 733);

d/ đồng ý thay đổi hoạt động của một tu viện đã có phép hiện hữu (GL. 612);

e/ cho phép Bề Trên Hội dòng hủy bỏ một tu viện hiện hữu ( GL.616 §1);

f/ chủ tọa cuộc bầu cử Bề Trên Tổng Quyền của Hội Dòng (GL.625 §2), chứ không nhận lời khấn;

g/ kinh lý Dòng tu, các tu viện trong Giáo Phận (GL.828 §2); nhưng không có quyền kinh lý học viện dành riêng cho tu sĩ (GL. 683 §1);

h/ quản lý tất cả những hoạt động phụng vụ, và mục vụ tông đồ của tu sĩ trong Giáo Phận (GL. 678-680); trong các hoạt động tông đồ công khai ngoài nhà Dòng, tu sĩ cũng phải phục quyền Bề Trên của mình, nên trong lãnh vực này, GMGP và Bề Trên phải có sự hòa hợp;

i/ khi có lý do rất quan trọng và khẩn cấp, GMGP có quyền cấm một tu sĩ cư ngụ trong giáo phận, nhưng trong trường hợp này phải trình Tòa Thánh (GL. 679);

k/ trong trường hợp tu sĩ đã khấn trọn được ngoại vi 3 năm, Hội Dòng phải có sự chấp thuận của GMGP (GL. 686);

D. GMGP có thẩm quyền giám sát hay miễn chuẩn:

a/ miễn chuẩn lời khấn cho tu sĩ còn trong thời kỳ tạm khấn, hay đã khấn trọn, nhưng qua những điều kiện Hiến Pháp, nội quy và ý kiến của Bề Trên Dòng (GL. 688 §2; 691 §2, 693);

b/ ký sắc lệnh trục xuất một tu sĩ mắc trọng tội mà không chịu hoán cải (GL. 699 §2 và 700), theo lời đề nghị của giới chức của Hội Dòng (sau khi Hội Dòng đã thi hành các điều kiện bắt buộc trong các khoản (GL. 694-700);

c/ được báo cáo về tổng số tài sản của dòng tu thuộc Giáo Phận, cũng như của tu viện trong địa giới của Giáo Phận (GL. 637), kiểm tra việc quản lý và dĩ nhiên ngài có quyền can thiệp trong những sang nhượng quan trọng có thể làm thương tổn tài sản của Hội Dòng (GL. 638).

 Tuy nhiên, với nhiều quyền như trên, GMGP vẫn không có quyền can thiệp vào nội bộ dòng tu, vì đây là phạm vi nội bộ, tự trị theo gia sản thiêng liêng của hội dòng, được GL. 583 § 2 bảo vệ. Thật vậy, GMGP không có quyền can thiệp trực tiếp vào nội bộ của Dòng tu. Giáo Luật khoản 586 §2 phải được coi như kim chỉ nam của ngài cũng như của dòng tu: “Bản Quyền địa phương – GMGP, Giám quản, Giám Mục phó hay phụ tá, Tổng đại diện, Đại diện Giám Mục – phải tôn trọng và bảo vệ sự tự trị nội bộ của Hội Dòng ”.

Theo lời ĐGH Gioan-Phaolô II, “một Giáo Phận vắng bóng các Tu sĩ tận hiến sẽ thiếu nhiều ơn thiêng liêng, thiếu những cơ sở dành riêng cho việc tìm kiếm Chúa, cơ sở hoạt động tông đồ cũng như những phương pháp mục vụ đặc thù của mỗi dòng tu; hơn thế Giáo Phận sẽ suy yếu vì thiếu tinh thần truyền giáo mà các Dòng tu sẵn có.”39 Trong lịch sử Giáo Hội, từ sơ khai cho đến nay, thời Trung Cổ cũng như hiện đại, các tu sĩ là những yếu tố quan trọng trong công tác loan báo Tin Mừng. Vì thế, trong các miền truyền giáo, Giáo Hội rất cần sự đóng góp vô cùng quý giá của tu sĩ40.

Trong hầu hết các Giáo Phận Việt Nam, đều có ít nhất một dòng nữ41. Có Giáo Phận có hàng mấy chục dòng cả nam lẫn nữ42. Sự khác biệt này có phải vì đất lành chim đậu ? hay vì những lý do lịch sử ?

E. Củng cố sự Hiệp thông trong Giáo Phận

Trên nguyên tắc, sự hiệp thông trong Giáo Phận đuợc coi như là đương nhiên và dĩ nhiên phải có. Có lẽ vì thế mà các tác giả Nội quy Năm Thánh 2010 trong khi đề ra mục tiêu “đào sâu mối hiệp thông giữa cộng đoàn tín hữu với Thiên Chúa trong Đức Kitô nhờ Chúa Thánh Thần”, đã không chủ trương “đào sâu mối Hiệp thông giữa các thành phần Dân Chúa”, mà chỉ chú trọng đến “củng cố sự hiệp thông giữa các thành phần Dân Chúa, giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân, trong mỗi Giáo Hội địa phương”. Nhưng chúng tôi được phép mạo muội đặt một số câu hỏi:

(1) Không biết mối hiệp thông đó đã có một cách cụ thể, một cách sống động, hay mới còn mù mờ trong lý thuyết, trong tình cảm của người đạo đức, hoặc hiểu ngầm là đã có.

(2) Nếu chưa có, đã có sự nghiên cứu và chương trình thực hiên càng sớm càng tốt sụ hiệp thông theo Công Đồng Vatican và Giáo Luật? Vì dân Chúa là những con người, sống trong một xã hội thiêng liêng nhưng có thể xác, có những mối tương quan trên và dưới và ngang hàng, nên sự Hiệp thông đó cần phải có những quy chế hướng dẫn bảo vệ các hoạt động, nhắc nhớ khi quên, canh tân khi cần phải diễn tiến theo hoàn cảnh lịch sử địa dư, liên kết các sứ vụ và tác vụ để cho sự hiệp thông được diễn tiến tốt đẹp trong tinh thần Bác ái và khiêm nhu.

Văn kiện Công Đồng và Giáo Luật là “chỉ đạo”, là khuôn vàng thước ngọc, vạch những con đường, những lối đi, những dấu hiệu để khỏi sai lầm, những lan can để khỏi sa ngã, và những khuyến dụ pháp lý để thể hiện Hiệp thông. Nhưng căn bản của Hiệp thông là tinh thần hòa hiệp, liên đới, đối thoại, chia sẻ chẳng những trong những khuôn khổ đó, mà còn phát triển chung quanh như những vết dầu loang, vì nếu Giáo luật xây dựng trên công bình, hiệp thông phải cụ thể hóa trong bác ái, trong tình huynh đệ của “con cái Chúa”. “Vô tri bất mộ”, cha ông ta nói thế. Không biết nhau, thì làm sao yêu nhau! Các thành phần Giáo phận đã biết nhau chưa? đã có những điều kiện để trao đổi, thảo luận một cách tự do, chân thành trong tình anh em chưa ? hay chỉ có những buổi đại lễ, đại hội mà bề dưới – nhất là giáo dân – đến nghe huấn dụ?

(3) Đã có những biện pháp để “củng cố” sự hiệp thông đó chưa ? Đã có chương trình “củng cố”: học hỏi và áp dụng ngay những quy chế để thực thi hiệp thông trong Giáo Hội chưa? Bốn mươi tư năm sau Công Đồng Vatican II mà rất nhiều tín hữu vẫn chưa rõ những canh tân tối ư quan trọng về mối liên hệ giữa hàng giáo phẩm và giáo dân, giữa Giám mục và linh mục, tu sĩ. Bộ Giáo Luật, phát hành năm 1983, mà 2007 mới được HĐGMVN chính thức phát hành. Trong thực tế, ở một số địa phương, hình như Bộ Giáo Luật chưa có trên bàn giấy các linh mục, các bề trên, hình như nhiều nơi vẫn áp những quy chế không biết từ 1917 hay trước nữa, hình như sự hiệp thông còn quá lỏng lẻo, và từ trên xuống dưới, guồng máy còn trục trặc43, sự hiểu biết của giáo dân, công giáo gọi là “đạo gốc” còn quá hạn chế trong những vấn đề đạo. Trong một số giáo phận, vì nhân đức khiêm nhường và vâng lời quá cao, giáo dân ít khi dám hay được phát biểu trong những vấn đề liên quan đến đời sống đạo và đời sống cộng đồng.

(4) Cụ thể mà nói, “Củng cố thế nào? Câu trả lời nhất định là rất dài. Nhưng cũng rất ngắn gọn:

– Trước tiên, Củng cố bằng tình thương, bằng hiệp nhất vì Chúa đã cầu nguyện cho các môn đệ “nên một như chính Chúa Kitô cũng là một với Chúa Cha”;

Củng cố bằng đối thoại khi, trong một Giáo Phận, mọi tín hữu, từ Giám mục đến giáo dân bé nhất, không phân biệt chức vị, coi mình bình đẳng với người khác như “anh chị em thực sự con cái Chúa”; nghĩa là Bề trên phải thi hành luật Phúc Âm hầu hạ người dưới; người có chức quyền phải chịu khó học hỏi và tuân thủ các văn kiện Công Đồng Vatican II và Giáo Luật 1983 (như chúng tôi đã trình bày ở trên), không phải để bảo vệ quyền lực mà để thi hành các quy luật một cách chân thành và khiêm nhu, và nếu chẳng may quên lãng, sẵn sàng nghe tiếng nhắc nhở của đồng đội cũng như của Bề dưới.

Củng cố bằng hành động chung, khi mọi tín hữu cùng thực hiện với nhau ba sứ vụ chính của Giáo hội a/ rao giảng Tin Mừng, b/ ban hành Bí tích và c/ thực thi Bác ái bằng việc bảo vệ công lý trong xã hội, và đặc biệt săn sóc, giúp đỡ những người bệnh tật, nghèo túng, bị xã hội bỏ rơi, bị bách hại, không phân biệt tôn giáo44. Và để thực hiện những sứ vụ đó, phải có tổ chức giúp mọi người liên đới với nhau (thắng vượt khoảng cách chức tước và không gian). Chính ở đây, vai trò của HĐGM rất quan trọng, như chúng tôi sẽ trình bầy trong Phần II.

– Sau cùng, chúng tôi thiển nghĩ phải Củng cố bằng trung kiên tuân giữ Giáo Luật.

 

 

 

Phần II

 Củng cố sự Hiệp thông giữa các Giáo Hội địa phương với nhau

Giáo Hội hoàn vũ có 2.936 Giáo phận với 1.147.000.000 tín hữu. Trong truyền thống ngàn đời, các Giáo Hội địa phương độc lập: mặc dầu độc lập, cách biệt về địa lý văn hóa, nhưng không phải là những hòn đảo từ thời thượng cổ, các Giáo Hội địa phương vẫn liên hệ chặt chẽ với nhau, chẳng những trong đức tin và đức ái, mà cả trong các vấn đề thần học, pháp luật, truyền thống. Thánh Ignatiô thành Antiôchia, trước khi chết vì đạo đã viết thư cho nhiều cộng đoàn công giáo thời đó để khuyến khích họ sống hợp nhất với nhau trong kỷ luật và tình thương.

 Công Đồng Vatican II, rút kinh nghiệm về những thành quả vĩ đại của một số Hội Đồng giám mục quốc gia tự giác, đã muốn từ nay các Giáo Hội địa phương trong một nước, hay một miền, phải cùng nhau tổ chức Hội Đồng Giám mục quốc gia hay miền, để thể hiện sự hiệp thông trong ý chí và hoạt động tông đồ, và củng cố sự hiệp thông đó qua việc thiết lập những cơ chế để cụ thể hóa tính cách duy nhất và hòa hợp, công giáo của Giáo Hội duy nhất vô hình45.

 Việt Nam có 26 Giáo phận với 6.087.659 tín hữu. Trước năm 1975, đã có Hội Đồng Giám mục miền Nam. Từ 1980, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam Thống nhất hướng dẫn Giáo Hội thực hiện đời sống đạo theo tinh thần và lý tưởng “sống Phúc Am trong lòng dân tộc, để mưu cầu hạnh phúc cho đồng bào”.

 Tuy Giáo Hội Việt Nam là một, nhưng trong thực tế còn rất nhiều khác biệt, bất đồng khiến nhiều khi giáo dân từ Nam ra Bắc hay từ Bắc vô Nam, đôi khi lạc lõng, ngỡ ngàng như đang du hành trên một hành tinh khác, trong một Giáo hội khác. Chúng ta không ngạc nhiên trước cảnh tượng đó. Trái lại chúng ta phải vui mừng vì thấy Giáo Hội Việt Nam có nhiều mầu sắc. Công Giáo Việt Nam được thừa hưởng nhiều truyền thống Tây Phương khác nhau: thí dụ giáo dân Bùi Chu, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Bình còn giữ nhiều nghi thức tôn giáo vừa Đa Minh, vừa Tây Ban Nha, vì gần ba thế kỷ sống với các cha Thừa Sai Đa Minh Tây Ban Nha, giáo dân các giáo phận khác có những nét sống đạo Pha Lang Sa46, với một số những nghi thức đạo đức khác. Các Giáo phận còn có những khác biệt trong phụng tự bình dân phát xuất từ những truyền thống Bắc, Trung, Nam47. Tuy nhiên, ngoài vấn đề kinh sách, còn rất nhiều vấn đề liên quan đến quy tắc “giữ đđạo”, giáo dân còn gặp những khó khăn khi phải giải quyết vấn đđề hôn nhân, thí dụ luật lệ khảo kinh mỗi Giáo phận một khác, đôi khi linh mục Giáo phận A không chấp nhận giấy chứng nhận của linh mục Giáo phận B, gây phiền hà cho đôi vợ chồng trẻ…

A. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

Hội Đồng Giám mục (HĐGM) là một cơ chế được Công đồng Vatican II cổ võ và đặc biệt khuyến khích48. Bộ Giáo Luật 1983 ra những quy định để các Giám mục một nước quy tụ thành một tổ chức pháp lý để hợp nhất và liên đới với nhau thực hành việc điều hành tập thể trong một Giáo Hội. HĐGM nhất trí và thực hiện những hình thức và những phương tiện tông đồ giống nhau phù hợp với những hoàn cảnh điạ lý và lịch sử của mọi quốc gia. HĐGMVN, đã được Tòa Thánh chính thức công nhận, như vậy là một pháp nhân có những quyền lập pháp và hành pháp theo Giáo Luật49.

 Vì mỗi Giám mục là trách nhiệm chính mỗi Giáo phận, dưới quyền Đức Giáo Hoàng. HĐGM là một cơ chế rất dân chủ, quy tụ các Giám mục Giáo Phận (GMGP): mỗi vị có quyền bỏ phiếu, và mọi nghị quyết phải được 2/3 số phiếu thuận, phải được Tòa Thánh chấp thuận và công bố công khai (GL. 455).

 Vì Giáo Hội toàn cầu mênh mông và bao quát 2,936 Giáo phận với 1.147.000.000 tín hữu (năm 2008), nên Tòa Thánh dành cho các HĐGM quyền ban bố những nghị quyết liên quan đến việc thống nhất về quản trị Giáo Hội trong mỗi quốc gia trong lãnh vực kỷ luật giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân, hay một số quyền thực hiện những sứ vụ pháp lý trong việc thống nhất mục vụ, phụng tự, và chế tài.

 Vì sợ dài dòng, chúng tôi chỉ nhắc dưới đây một số nghị quyết (25 trên 35) mà Giáo Hội Việt Nam cần phải có để thực hiện sự thống nhất và hòa hợp giữa các Giáo phận:

1. Chương trình đào tạo chủng sinh (GL. 242);

2. Quy luật về Hội Đồng linh mục trong các giáo phận (GL. 496);

3. Quy luật về thời gian cố định cho linh mục quản xứ (GL. 522);

4. Quy luật về bổn phận linh mục quản xứ trong việc bảo quản công hàm giáo xứ (GL.535 § 1; 895)

5. Quy luật về quyền hưu dưỡng các linh mục quản xứ (GL.538 § 3)

6. Quy luật về phó tế vĩnh viễn (GL. 236 § 1; 276 § 2,3; 1031 § 2,3);

7. Quy luật về y phục giáo sĩ (GL.284)

8. Quy luật về việc trao chức giúp lễ, đọc sách cho giáo dân (GL. 230§ 1) ;

9. Quy luật về việc cho phép giáo dân giảng giải trong nhà thờ; (GL.230 §3);

10. Quy luật về việc in sách bổn; lập ủy ban giáo lý chung của HĐGM (GL.775§1;2);

11. Ra luật về giáo dục công giáo (GL.804);

12. Quy luật về giải tội tập thể (GL.961);

13 Quy luật về hạn tuổi lĩnh chức linh mục hay phó tế (GL.1031);

14. Luật về điều tra hôn phối (GL.1067)

15. Luật về tuổi nam nữ được phép kết hôn (GL.1083);

16. Quy luật về chuẩn trong Hôn nhân công giáo với người không công giáo (GL.1127 § 2).

17. Quy luật về bổn phận giáo dân đóng góp cho Giáo Hội (GL.1262 );

18. Quy luật về tổ chức quyên góp (GL.1265 § 2);

19. Quy luật về cho thuê tài sản Giáo Hội (GL.1297); chuyển nhượng tài sản Giáo Hội (GL.1292);

20. Quy luật Quy luật “kiêng thịt, ăn chay” (GL. 1251; 1253);

21. Quy luật giữ các “lễ buộc” (GL.1246,§ 2);

22. Quy luật kiện tụng, hòa giải, trọng tài (GL.1714);

23. Quy luật về Hội đồng hòa giải trong mỗi Giáo phận (GL.1733 § 2);

24. Quy luật về Phát động chương trình đại kết (GL.755 § 2);

25, Quy luật về giảng đạo trong radio, TV (GL. 772 § 2; 832 § 2).

Ngoài những nghị quyết trên đây, HĐGM có quyền và đôi khi có bổn phận phải thực hiện một số tác vụ quan trọng, cần thiết vì lợi ích chung của Giáo Hội trong một quốc gia.

 Cũng vì mục đích ngắn gọn, chúng tôi chỉ ghi dưới đây 18 tác vụ chính (trong số 35 tác vụ) mà chúng tôi thiết nghĩ là quan trọng trong hiện tình Giáo Hội Việt Nam:

1. Chương trình đào tạo phó tế vĩnh viễn (GL. 237 § 2);

2. Thiết lập hiệp hội quốc gia của giáo dân được phép hoạt động trong cả nước(GL. 312 § 1,2);

3. Phê chuẩn Luật hiệp hội quốc gia nhắc ở trên (GL.314)50;

4. Phê chuẩn dự án hoạt động hiệp hội quốc gia (GL.315);

5. Chấp nhận lãnh đạo; chọn tuyên úy cho hiệp hội quốc gia (GL.317 § 1-2);

6. Cộng tác với Hội nghị Bề trên cấp cao của các Dòng tu (GL.708);

7. Khuyến khích nâng đỡ các tổ chức lo việc truyền giáo (GL.792);

8. Phê chuẩn các bản dịch KT (GL.825);

9. Dịch và in các sách Phụng tự (GL.838 § 3);

10. Quy định về ban hành Bí tích (GL.841) ;

11. Cho phép giáo dân chứng kiến hôn nhân thay linh mục (GL.1112 § 1);

12.Quy định nghi lễ hôn phối (GL.1120) ;

13. Thành lập tổ chức an sinh cho giáo sĩ (GL.1274 § 2 – 4);

14. Cho phép giáo dân làm thẩm phán trong tòa án đạo (GL.1421 § 2);

15. Cho phép xử án với một thẩm phán trong các vụ án đệ nhất cấp (GL. 1425 § 4);

16, Thành lập một hay nhiều tòa án đệ nhị cấp trong nước (GL.1439);

17. Nâng một thánh đường lên địa vị đền thánh quốc gia (GL.1231).

18. Phê chuẩn các quy chế đền thánh quốc gia (GL.1232)

Chúng ta vui mừng vì thấy Giáo Hội Việt Nam đã có Hội Đồng Giám mục Việt Nam, có cơ chế, có ban bệ, có các Ủy Ban đáp ứng những nhu cầu thời đại51.

Nhưng có người còn nghĩ rằng Giáo Hội VN vẫn còn là một quần đảo tập hợp 26 hòn đảo lớn nhỏ, giầu nghèo khác nhau. Suy nghĩ đó đúng hay sai? Để thoát khỏi cái hình ảnh không mấy tốt đẹp đó, chúng tôi mong HĐGM nghiên cứu qua điều nghiên, và dùng biện pháp thích ứng để sự hiệp thông giữa các Giáo phận không những được thể hiện trên lý thuyết, mà còn trong thực tế, để không có nhiều cách biệt giữa các Giáo phận, và để giáo dân từ Giáo phận này sang Giáo phận khác không có cảm tưởng là mình xuất ngoại. Hiện nay, vì hoàn cảnh kinh tế xã hội, giáo dân di chuyển nhiều (trong phong trào dân bỏ miền thôn dã, một phần vì sinh kế về các trung tâm kỹ nghệ), thiết tưởng HĐGMVN phải sớm thống nhất các luật đạo địa phương, nhất là các quy luật về hôn nhân52.

Nhiều người cũng mong trong Giáo Hội Việt Nam thực hiện hệ thống hành pháp rõ ràng của Giáo Luật để tránh những lạm dụng quyền lực, nhất là ở các cấp lãnh đao. Trong các vấn đề liên quan đến công lý và kỷ luật trong Giáo Hội, thiết tưởng HĐGM sớm thiết lập tòa án đệ nhị cấp để giải quyết những vụ kháng án theo đúng Giáo Luật53.

Dĩ nhiên Hội Đồng Giám mục không có quyền trên Giám mục Giáo phận, nhưng HĐGM có thể đề nghị các mục tử thống nhất hình thức sống đạo và hành đạo “cùng nhau phân phát cho mọi người những lợi ích của Giáo Hội qua những hình thức và phương pháp tông đồ thích hợp với những hoàn cảnh văn hóa hiện nay của đất nước”54. Vì thế, mong HĐGMVN cống hiến thêm nhiều công sức, nhiều thời gian, nhiều nỗ lực để thực hiện những điều Công Đồng và Giáo Luật đòi hỏi.

Vì, theo sự hiểu biết thô thiển và nông cạn của chúng tôi, những khoản luật mà chúng tôi nêu ở trên, chưa được áp dụng một cách đồng nhất trong Giáo Hội Việt Nam.

B. Củng cố sự Hiệp thông giữa các thành phần dân Chúa

Sự hiệp thông giữa các Giáo Hội địa phương không chỉ thu hẹp trong cơ cấu của HĐGM, hay hoạt động của các nhà lãnh đạo. Sự hiệp thông của Giáo Hội phải diễn ra trong tất cả những lãnh vực của đời sống: phụng tự, truyền giáo, văn hóa, bác ái xã hội v.v. Sức sống càng ngày càng lớn mạnh trong các tầng lớp tín hữu, (linh mục, tu sĩ, giáo dân), trình độ học vấn đang lên của giới trẻ thành thị cũng như thôn quê cho phép chúng ta tin ở một sự hiệp thông càng ngày càng rộng rãi và mật thiết. Người Việt Nam có truyền thống gắn bó với nhau, đoàn kết với nhau, nên chúng tôi nghĩ đến các tổ chức, các hiệp hội tư hay công của đồng bào công giáo.

B.1 Về vấn đề hiệp thông toàn quốc, xin phép đặt một số câu hỏi:

1. Nói chung, giáo dân đã biết đến căn tính và quyền hạn của HĐGM? Giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân đã tham gia vào những công tác của HĐGM?55 HĐGM hiện xuất bản tờ Hiệp thông, tiếng nói của HĐGMVN56. HĐGM có các ban bệ, nhưng các hoạt động của HĐGMVN đã minh chứng đủ cho giáo dân thấy rằng Giáo Hội Việt Nam thống nhất về tư tưởng, về đường lối, về sự hiệp nhất trong quản trị ?

2. Về phụng tự, nói chung giữa các Giáo phận không có sự khác biệt về Nghi lễ Roma57. Nhưng trong tinh thần, trong kiến trúc, trong thánh nhạc, trong đạo đức bình dân, đã có sự hiệp thông cụ thể chưa?

- Thí dụ, về kiến trúc, mỗi Giáo phận, phải có Ủy ban về phụng tự và nghệ thuật thánh. Có mấy Giáo phận đã có các Ủy ban này? Công Đồng không bắt buộc phải theo một khuôn mẫu, nhưng hình thức, trang trí, xếp đặt trong thánh đường vừa phải đáp ứng mục tiêu thờ phượng tức xây dựng “nhà Chúa”, vừa “thích ứng với việc thực hành các nghi tiết phụng tự giúp giáo dân tham gia tích cực vào nghi lễ58. Theo chúng tôi, hiện nay nhiều nhà thờ tuy có vẻ hoa lệ, hoa văn mới, đôi khi lai căng, cách xếp đặt nội vi như một rạp hát, gian thánh quá cao, xa rời giáo dân59, điều mà chính nhẽ Ủy Ban Phụng tự và nghệ thuật thánh của các Giáo phận cũng như của Hội Đồng Giám mục Việt Nam 60 nên góp ý với các kiến trúc sư và cha xứ.

- Về thánh nhạc, cũng như nghệ thuật thánh, theo nhận xét của nhiều người, hiện nay có quá nhiều thánh ca, đôi khi chưa thích hợp với văn hóa Việt Nam (điều mà Công Đồng khuyến khích61), không diễn tả đuợc tâm tình đạo đức của người cầu nguyện. Hiện nay đang nhóm lên những sáng kiến thánh ca vừa hòa hợp với nhạc truyền thống, vừa có giá trị liên tôn. Những sáng kiến cần được chia sẻ rộng rãi.

- Về đạo đức bình dân. Những hình thức đạo đức bình dân, rất phong phú ở Việt Nam, rất cần được bảo tồn như gia tài văn hóa của Giáo Hội, nhưng cũng cần canh tân cho hợp thời đại. Có nên tránh những tổ chức có tên “nghĩa binh, đạo binh ”, những danh hiệu đôi khi gây hiểu nhầm, hay làm cớ cho người ta xuyên tạc? Nhất là nên rà soát để sửa đổi các kinh có những điều đã bị Công Đồng Vatican II xóa bỏ, hay xúc phạm đến những người không cùng niềm tin với chúng ta?

- Giáo dân Việt Nam, nhất là ở thôn quê, có truyền thống đọc kinh chung sáng tối, nhất là trước lễ Chủ Nhật. Trong một số kinh đó, có những kinh nghe chói tai, không theo sát những tiến triển tư duy của thần học sau Vatican II. Chúng tôi tha thiết xin Ủy ban Phụng tự để tâm tu sửa. Xin đan cử vài thí dụ:

a/ Trong kinh “Nghĩa đức tin” đọc sáng chủ nhật truớc lễ có câu: ai chẳng thông công cùng Hội thánh ấy, thì chẳng được rỗi linh hồn; mà linh hồn là giống thiêng liêng chẳng hề chết được …” Cái giáo lý “ngoài Hội Thánh không có ơn cứu độ” đã được Hiến chế Lumen Gentium62 và Sách Giáo lý Công giáo63 giải thích và chú giải mầu nhiệm cứu độ một cách rộng rãi, vì “chương trình cứu độ gồm cả những anh chị em đã chịu phép Thánh Tẩy, nhưng không hợp nhất với Giáo Hội công giáo, và cũng gồm những ai tin ở Đấng Tạo Hóa (như các tín hữu Hồi giáo, Do thái giáo) hay những người ngay lành chưa biết Phúc Âm, nhưng sống lương thiện đạo hạnh, cũng là những người được Chúa kết hợp một cách mầu nhiệm vào Dân Chúa”64.

b/ Kinh Thánh Phan xi cô cầu cho kẻ ngoại, “Cúi xin Chúa từ nay về sau đừng để những kẻ ngoại đạo khinh ơn cứu chuộc (…) Chúa hãy nhớ lòng nhân từ Chúa che lấp lỗi những kẻ ấy xưa nay đã lạc đàng thờ bụt thần” coi đồng bào bên lương là người có lỗi cần che lấp (sic) và coi họ là người thờ bụt thần ma quỷ !!!

 c/ Kinh Bản Hỏi: “Hỏi kẻ lành là ai, kẻ dữ là ai ? Thưa kẻ lành là kẻ giữ đạo nên, kẻ dữ là kẻ chẳng có đạo, cùng kẻ giữ đạo chẳng nên”. Một câu kinh “kinh hoàng” như vậy vẫn còn đọc hàng tuần trong nhà thờ !

 d/ Nhiều người ngạc nhiên khi nghe đọc kinh ngày thứ nhất Tuần Cửu Nhật kính ĐMHCG, trong đó quả quyết: “Đức Chúa Giêsu đang ngự trên tay Mẹ, Người là Đấng phép tắc vô cùng, là Chúa tể cầm quyền sinh tử, là Đấng ban phát mọi ơn lành, mà Mẹ là Mẹ Người, hẳn Mẹ có quyền thế mà kêu xin Người, và buộc Người phải chuẩn y lời Mẹ, Người đã minh chứng Người chẳng có thể từ chối Mẹ ơn gì”. Không biết khi nào Chúa Giêsu minh chứng Người chẳng có thể từ chối Mẹ ơn gì65? Và dù là Mẹ, Đức Mẹ nào dám buộc Chúa phải chuẩn y “như ý con ( người đọc kinh)xin ? …

 e/ Hay kinh ông thánh Martinô: … “chúng tôi mừng và cầu khẩn Người từ tòa cao Người ngự xin đoái thương nhân lời anh em túng nghèo kêu xin”. Ai hay thánh Martinô ngự tòa cao hay thấp ?

v.v…

B.2 Về các tổ chức, các hiệp hội, đoàn hội giáo dân

“Đoàn kết sống”. Sức sống của Giáo Hội thể hiện qua sự đoàn kết, nhất trí của tín hữu. Hiệp thông trong sứ vụ, trong các lãnh vực khác nhau dựa vào sự tổ chức.

 Trong lãnh vực trưc tiếp liên hệ đến sứ vụ của Giáo Hội, thí dụ trong sứ vụ công lý và bác ái, Công Đồng Vatican II yêu cầu:“Các mục tử phải nhận biết và đề cao giá trị và trách nhiệm của giáo dân trong Giáo Hội, chấp nhận những ý kiến khôn ngoan của họ, trao cho họ những tác vụ đáng tin cậy, cho họ được tự do hoạt động trong lãnh vực mà họ có khả năng, và hơn nữa cũng khuyến khích họ thực hiện những công tác do chính sáng kiến của họ”66 Trong nhiều hoàn cảnh xã hội, để giải phóng nạn nhân khỏi những bất công xã hội, khỏi cảnh bóc lột, đói nghèo, đầy ải, hay bị xã hội bỏ rơi, vũ khí mãnh liệt và hữu hiệu nhất là đoàn kết với nhau trong những hoạt động tập thể, nói cách khác trong các tổ chức nhân đạo: là người công dân, giáo hữu có quyền tham gia những tổ chức nhân đạo phi tôn giáo hay tôn giáo. Nhưng tín hữu, với niềm tin và tình thương, với sự khuyến khích của các Giáo Hoàng67 giáo dân không thể làm ngơ trước những bất công đó và nên có những tổ chức công giáo để giáo hữu và những người thiện chí dấn thân xây dựng một đất nước hòa bình, ấm no, một thế giới trong đó không còn cảnh “người bóc lột người”, cảnh “cá lớn nuốt cá bé”, nhất là trong một thế giới càng ngày càng thờ Thần Tài Mamon thay Thiên Chúa. Giáo hữu Việt Nam đã làm gì ? Ủy ban Caritas Việt nam, và Bác ái xã hội của HĐGM đã ra đời, nhưng hình như vẫn còn chờ sự tham gia của đông đảo giáo dân thiện nguyện.

Trong nhiều Giáo Hội, Hội Đồng Giám mục trao quyền quản lý, nhân danh Giáo Hội, các hoạt động xã hội bác ái cho giáo dân, thí dụ tổ chức Développement et Paix ở Canada, tổ chức CCFD ở Pháp68.

Giáo Hội Việt Nam có nên học hỏi mô hình đó ?

Trong Giáo Hội Việt Nam có nên tìm cách liên đới các nhóm thiện nguyện, các sáng kiến xã hội rãi rác khắp nơi, nơi tu sĩ và giáo dân để sự hiệp thông trong Giáo Hội thành một màng lưới “tình thương” ngõ hầu phát triển thêm những mô hình bác ái tương tự trong tất cả các giáo phận, trao đổi kinh nghiệm, nâng đỡ nhau về tinh thần cũng như về phương tiện ?

Hiện nay, công tác từ thiện bác ái vẫn phát triển theo mô hình xưa: những cơ sở nuôi trẻ mồ côi, khuyết tật, những nhà dưỡng lão cho những người cao tuổi cô đơn, những trung tâm Aids/Sida, những trung tâm từ thiện, do các linh mục, dòng tu sáng lập và quản lý. Ngoài ra, người ta thấy nở rộ những nhóm giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân - trung thành với lời Chúa dạy phải nhận định và khám phá “dấu hiệu thời đại” - đang thể hiện những dự án thích ứng với những hoàn cảnh hiên tại của xã hội và đất nước. “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, cha ông đã nhắn nhủ.

Trong một vài Giáo phận, một số hoạt động tập thể, một số tổ chức hay hiệp hội đã ra đời và đã thu hoạch được những thành quả chẳng những ở địa phương, mà lan ra toàn quốc; có tổ chức đã có những thành tích trong quá khứ, nay đang âm thầm sống lại với danh hiệu cũ hay với danh hiệu mới.

Những tổ chức đó ra đời từ niềm tin và tình thương của người tín hữu và hoạt động một cách hoàn toàn tự nguyện trong tinh thần dấn thân, đôi khi không được chính các mục tử hay đồng đạo biết đến. Nó ra đời nhiều khi để lấp những lỗ hổng trong cuộc sống tôn giáo hay xã hội. Nhiều tổ chức không do giáo quyền khai sinh, vì nó là con đẻ của thành phần dân Chúa, do sự thúc đẩy của Chúa Thánh Linh, để qua hoạt động, cùng tung hô “một Chúa, một niềm tin, một phép rửa” (Eph.4,5), cùng thực thi sự thánh thiện trong sức sống dồi dào của Phúc Âm trong Nhiệm thể Chúa Ki-tô69. Chính sự hiệp thông của tất cả thành phần dân Chúa không phân biệt chức vị sẽ nói lên tình liên đới “người với người” với những nạn nhân của nghèo đói, khổ cực, của bệnh hoạn, của bóc lột kinh tế và nói lên sức sống của một Giáo Hội. Sức sống đó là bác ái, như lời Đức đương kim Giáo Hoàng:

 Đối với Giáo Hội, thực thi bác ái không phải là một công tác xã hội có thể ủy thác cho người khác làm thay, mà là một yếu tố thuộc về căn tính của mình và không được phép xa rời... Hơn thế bác ái còn phải vượt ranh giới Giáo Hội, như trong dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu, Giáo Hội giúp đỡ bất cứ ai trong hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, vì là gia đình của Chúa giữa trần gian, nên Giáo Hội không thể để cho một phần tử nào của mình thiếu những nhu cầu tối thiểu70

Toàn cầu hóa kinh tế phải được thay thế bằng “Toàn cầu hóa bác ái mà đối tượng là nhân phẩm, liên đới và hỗ trợ mà ưu tiên là bảo vệ những người nghèo, đó là linh hồn của Tin Mừng71 Là Giáo Hội hữu hình, Giáo Hội Việt Nam sẽ làm gì một cách cụ thể để hiệp nhất và nâng đỡ các tổ chức bác ái trong mục đích chính của Đại hội là “làm mới hình ảnh gia đình Giáo Hội tại Việt Nam” và “đáp trả tình thương của Chúa”?

B.3 Hiệp thông trong lãnh vực xã hội, kinh tế

Xã hội trần gian muốn phát triển phải có công lý. Chương trình “toàn cầu hóa” hiện nay cho phép các lực lượng kinh tế lũng đoạn xã hội, các nhà tài phiệt với danh nghĩa phát triển bền đỗ xây dựng xí nghiệp ở các nước nghèo để bóc lột nhân công, đồng thời làm áp lực trên các Nhà Nước nghèo chậm phát triển để khinh thường các luật lệ về môi trường và công bình xã hội72. Xã hội Việt Nam đang là nạn nhân của ác mộng toàn cầu hóa. Các thế lực kinh tế dựa vào đồng tiền và quyền thế của Ngân Hàng thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc Tế, Tổ chức Thương Mại thế giới73.

Ở nuớc ta, từ ngày Ngân Hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế “cấp vốn” cho Nhà Nuớc, các bệnh viện bắt buộc phải thu viện phí, và trẻ em tiểu học phải trả học phí74. Vì các cơ quan kinh tế này cho vay với điều kiện là không được phép miễn phí trong y tế và giáo dục. Nhờ chủ trương “đổi mới”, nước ta mơ biến thành một trong những con rồng Châu Á, nên thi hành chính sách “mở cửa” qua đó các công ty siêu quốc gia đầu tư xây dựng các xí nghiệp, lợi dụng nhân công rẻ, sức khoẻ và đời sống thợ thuyền không được bảo vệ, và hầu như không có một luật lệ bắt buộc xí nghiệp phải tôn trọng môi trường sống của nhân dân. Thị trường “tự do” vừa là nguồn tham nhũng, vừa là cơ hội cho những kẻ bất lương, cấu kết với tham quan và thế lực kinh tế, bỏ quên quyền lợi của người nghèo.

Ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước Đông Nam Á, đại đa số nông dân là những nhà sản xuất nông nghiệp nhỏ, đội khi còn là nông dân không ruộng đất. Luôn phải đương đầu với những vấn đề pháp lý về quyền sử dụng đất đai, làm sao trong kinh tế toàn cầu hóa của WTO, họ có thể cạnh tranh nổi với những tổ hợp nông nghiệp tư bản có vốn hàng chục triệu đô la US$ trở lên75. Bất lực vì nợ nần, nghèo đói, trong khi chính quyền bán ruộng cho các nhà tư bản ngoại quốc biến thành sân golf, họ kéo về các thành phố như sóng lũ, vừa làm nông thôn bị tê liệt vì thiếu người trẻ, vừa biến thành phố thành biển người thất nghiệp, vô gia cư, vất vưởng trước cảnh sống xa hoa của một người giầu, nhiều khi bất chính.

“Toàn cầu hóa” lấy lợi tức làm mục tiêu chính. Và thế lực đồng tiền sẽ coi thường mạng sống con người, nhất là con người vô sản, coi thường môi trường sống của người dân. Nhờ có tiền, các công ty siêu quốc gia xây dựng những xí nghiệp không màng đến môi trường, sa thải tự do hóa chất độc hại ra sông ngòi, vì ở các nước tiên tiến họ không còn được phép sa thải tự do nuớc thải nếu không thanh lọc hoá chất. Các công ty nhỏ hơn nhập cảng hàng vạn tấn rác công nghiệp để tái chế76. Nhà Nước luôn nhằm mực GDP tăng, nhưng hàng vạn người chết vì ung thư, vì các thứ bệnh phát sinh do môi trường càng ngày càng ô nhiễm.

Mức “tăng trưởng” mỗi năm mỗi nâng cao, thống kê quốc gia luôn đề cao từ 7% trở lên, Việt Nam thứ nhì thế giới trong xuất khẩu gạo, cà phê, hạt tiêu, nhưng hạ thấp con số những người nghèo cực, nghĩa là những gia đình không kiếm nỗi cho mỗi thành viên 15.000 đồng (1 đô la) trong hoàn cảnh gạo châu, củi quế, con số những gia đình phải bán nhà bán đất để chữa bệnh cho thân nhân. Những con số khác không mấy hoành tráng: hàng chục vạn phụ nữ phải bán thân với hình thức tô mầu “lấy chồng ngoại quốc”, hàng vạn công nhân nam nữ phải chi hàng ngàn đô la để được xuất khẩu lao động, nghĩa là ra ngoại quốc làm tôi đòi; hàng triệu thai nhi bị giết vì luật “dân số” vv.

Nhập siêu làm giầu cho một thiểu số tư bản, mại bản, cán bộ tham ô, nhưng biến cả dân tộc thành con nợ77.

Người công dân hiện nay thấy sự phân hóa giữa người giàu càng ngày càng bi đát. Ai là người có trách nhiệm?

Những yếu tố trên đây rất gần với nhận xét rất chính xác của Liên Hội Đồng Giám mục Châu Á lần thứ VIII (2004) số 13: “Mất khả năng cạnh tranh, không có những biện pháp bảo vệ của chính phủ, mất mạng lưới an toàn che chắn cho nông sản địa phương trước sự cạnh tranh không tương xứng, các gia đình nông thôn phải gánh chịu một yếu tố mới làm cho họ nghèo thêm trước sự bất lực của họ. Cũng thế, đại đa số nông dân Á Châu là những nhà sản xuất nông nghiệp nhỏ. Họ không thể cạnh tranh với chiều hướng càng ngày càng gia tăng của ngành kinh doanh lớn liên kết với nhau thành tổ hợp canh tác quốc tế (…). Hơn nữa, vì luôn phải đương đầu với những vấn đề về quyền sử dụng đất đai, các gia đình nông thôn thấy đất đai của họ không còn sản xuất với những điều kiện như thế. Vấn đề còn trầm trọng hơn do làn sóng di dân từ nông thôn đến thành thị làm cho các cộng đoàn ở nông thôn trở thành tê liệt ”.

Cuộc tranh đấu cho công lý, cho công bình xã hội tuy là một công việc xem ra có mầu sắc chính trị, nhưng cũng thuộc lãnh vực tranh đấu của công dân, vì theo Hiến pháp “Nhà Nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện78. Tranh đấu cho mọi người được hưởng những điều đó là nghĩa vụ của mọi công dân. Trên nguyên tắc, đây là nghĩa vụ chính trị và không thuộc quyền hạn trực tiếp của Giáo Hội. Nhưng Giáo Hội có nghĩa vụ cộng tác và đào tạo lương tâm nguời tín hữu để những đòi hỏi đó được hiểu biết và cùng nhân dân thực hiện trên bình diện chính trị. Lương tâm người tín hữu hướng dẫn họ “góp sức làm cho các thể chế chính trị xã hội lành mạnh hơn, phù hợp với những tiêu chuẩn của đức công bình”, để các nghĩa vụ và bổn phận trần thế của mình đưa lại công lý và hòa bình cho xã hội.79 Trong những miền kém mở mang, người dân nổ lực phát triển để dân giàu nước mạnh, để chấm dứt những chênh lệch lớn lao về kinh tế, để nâng đỡ nông dân tăng gia sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của mình ngõ hầu mọi lao động được hưởng những hoa lợi tương ứng với mồ hôi nước mắt của mình.80 Trong những vấn đề này, Giáo Hội Việt Nam có nên lên tiếng đóng góp cụ thể và mãnh liệt vì “mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bình, dân chủ văn minh” 81?

 Dân Chúa không thể bình chân như vại, khi thấy phô bày trước mắt mình những bất công, khi một số người lợi dụng quyền lực đồng tiền để đè nén người nghèo. Hơn thế, vì là cộng đồng dân Chúa, Giáo Hội có nghĩa vụ thực thi bác ái, nhất là khi thấy có những phần tử Giáo Hội thay vì tranh đấu cho người nghèo, lại vì những lợi ích vật chất, cấu kết với những thế lực tài chính, tiền bạc. Từ thế kỷ 19 cho đến nay, qua những thông điệp Rerum novarum (1891) của ĐGH Leo XIII, Quadragesimo anno (1931) của ĐGH Piô XI, Mater et magistra (1961) của ĐGH Gioan XXIII, Populorum Progressio (1967) Phaolô VI, Sollicitudo rei socialis (1987) Centesimus annus (1991) của ĐGH Gioan Phaolô II, Giáo Hội luôn luôn đề cao công bình và bác ái trong các giải pháp xã hội để agape-caritas là ngọn đuốc soi đường cho giáo hữu trên đường phục vụ người nghèo, người bị xã hội bỏ rơi. Các tổ chức thiện nguyện của Giáo Hội như Caritas (quốc tế, quốc gia hay Giáo phận), Cor Unum quy tụ mọi người, nam nữ, già trẻ chung quanh một mục tiêu: phục vụ với tất cả tâm huyết những người cần được giúp đỡ. Sóng lũ nghèo cực đang dâng trên thế giới, sự áp bức, bóc lột càng ngày càng như con khủng long đè bẹp dân nghèo, những cơ chế bất công, tham ô như con ma cà rồng hút máu dân đen, lòng tham vô đáy như con cá mập đày đọa người lao động, trong khi luân thường đạo lý đang bị loại ra khỏi xã hội, một xã hội chỉ biết có thượng đế là lợi nhuận và đang chìm đắm trong tham sân si.

Chính ở đây, ĐGH Bênêđictô XVI đã nhấn mạnh vai trò của các vị chủ chăn trong Giáo Hội địa phương. Ngài nhắc đến Chỉ thị Apostorum Successores về thừa tác mục vụ của các Giám mục do Thánh Bộ Giám mục của Vatican ban hành ngày 22 tháng 2 năm 200482.

Năm 2001, Đại Hội thường lệ của Thượng Hội Đồng Giám mục thế giới lần thứ X, với đề tài “Giám mục, thừa tác viên Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, phục vụ niềm hy vọng của thế giới ” cũng đã nhấn mạnh rằng niềm hy vọng của mọi người và mỗi người chính là Chúa Giêsu, mà người phục vụ niềm hy vọngđđó cũng như loan báo Tin mừng là Giám mục83. Kết tinh những ý kiến của Thượng Hội Đồng, ĐGH Gioan Phaolô gửi tới 4.695 Giám mục toàn cầu:

Trong công tác mục tử của mình, Giám mục không thể không đặc biệt chú ý đến những hoàn cảnh xã hội và kinh tế của những người nghèo nhất, những người bị bỏ rơi hơn cả, những người bị đàn áp, cần công bình và bác ái; nơi họ, người tín hữu nhìn thấy hình ảnh đặc biệt của Chúa Ki-tô.

 “Tôi cũng muốn nói đến một hiện tượng phức tạp đặc trưng của thế giới hôm nay người ta gọi là toàn cầu hóa. Vì hiện nay có toàn cầu hóa kinh tế tài chính, toàn cầu hóa văn hóa dần dần được coi như là hoa quả của sự tiến bộ nhanh chóng nhờ các kỹ thuật truyền thông. Như tôi đã có dịp trình bày nơi khác, hiện tượng này đòi phải phân định cẩn thận để phân biệt những khía cạnh tiêu cực và tích cực và những hậu quả của nó cho Giáo Hội và cho cả loài người” Để đối phó với những nét tiêu cực dưới toàn cầu hóa, ĐGH đề nghị Giáo Hội thăng tiến “Toàn cầu hóa bác ái” mà đối tượng là nhân phẩm, liên đới và hổ trợ mà ưu tiên là bảo vệ những người nghèo. “Đó là linh hồn của Tin Mừng”84.

Bây giờ hơn bao giờ, cuộc chiến giữa người giầu chống người nghèo, đang phân hóa sâu xa hai lớp người đó. Người nghèo càng ngày càng đông! Trong một hệ thống kinh tế bất công, do những cơ cấu không hài hòa phát sinh, hoàn cảnh của những người sống ngoài lề xã hội. Càng ngày càng bi đát. Trong lúc có những nơi rất trù phú, thế mà có rất nhiều miền thế giới người ta còn đói. Những nạn nhân của sự phân hóa đó phần nhiều là những người nghèo, người trẻ, người di dân. Ở nhiều nơi, nhân phẩm người phụ nữ bị chà đạp, họ biến thành nạn nhân của một văn hóa trụy lạc và duy vật. (… ) Làm sao chúng tôi có thể im lặng trước thảm họa của nghèo đói và khổ cực trong một thời đại mà nhân loại có thừa phương tiện để chia sẽ một cách quân bình hơn? Chúng tôi cũng không thể không nói lên tình liên đới của chúng tôi với những đoàn lũ người di dân và lưu vong, nạn nhân của chiến tranh, của áp bức chính trị, hay của phân biệt đối xử về kinh tế; họ là những người phải bỏ quê hương, đi kiếm sống và tìm hy vọng an bình. Bệnh sốt rét rừng, bệnh sida, nạn mù chữ, cảnh bụi đời, cảnh phụ nữ bị bóc lột, cảnh mãi dâm, cảnh thiếu khoan dung, cảnh lạm dụng tôn giáo thành bạo động, nạn buôn bán ma túy và vũ khí đang hành hạ bao người! Và danh sách sẽ còn dài! Cũng may trong các khổ đau và khốn quẫn, người nghèo đang vươn lên và Thiên Chúa thấy họ và nâng đỡ họ”85.

Ở đây, các Giám mục không thể không chạm tới đời sống kinh tế và xã hội. Mặc dầu, bác ái tự nó không nhằm thu hút ai tòng giáo, nhưng Tin Mừng nhắc nhớ mọi người rằng phát triển con người cũng như một dân tộc không thể chỉ hạn chế trong lãnh vực kinh tế, mà phải mở rộng sang lãnh vực nhân bản và đạo đức. Tin Mừng loan báo một xã hội công bình và bác ái. “Giám mục phải là người loan báo tin mừng ấy trong Giáo Hội địa phương của mình, cho mọi người thấy trọng tâm của “Tin mừng” là các Mối phúc ghi trong Phúc Âm.

B.4 Hiệp thông trong lãnh vực xã hội chính tri.                    

Dĩ nhiên việc duy trì công lý trong xã hội, bảo vệ an ninh và hòa hợp quốc gia là trách nhiệm của các thể chế chính trị86. Giáo Hội không thể và không được phép thay thế Nhà Nước. Khi Nhà Nước, vì công ích và vì quyền lợi của toàn dân, áp dụng luật pháp, dù đôi khi Giáo Hội – vì lý do này hay lý do khác – xem ra bị thiệt thòi, người công giáo, và Giáo Hội với tính cách là dân Chúa phải tuân thủ, phục tùng và cộng tác theo lương tâm87. Nhưng khi chính quyền vượt quá quyền hạn của mình, đàn áp nhân dân, người tín hữu vẫn phải cộng tác trong những điều khách quan thuộc về công ích; nhưng tín hữu có quyền bảo vệ quyền lợi của mình và quyền của đồng bào chống lại sự lạm dụng quyền bính, trong giới hạn luật tự nhiên, Hiến pháp và luật Phúc Âm88.

Vì sứ vụ và khả năng của mình, Giáo Hội không đồng hóa bất kỳ cách nào với cộng đồng chính trị, hay dính líu với một hệ thống chính trị nào (…) Trong môi trường của mình, cộng đồng chính trị và Giáo Hội hoàn toàn độc lập với nhau và và hoàn toàn tự trị89. Vì thế, để tránh những vết xe lịch sử, Giáo Hội Việt Nam, với tính cách là Giáo Hội, không đứng ra tổ chức những đảng phái chính trị, hay những lực lượng chính thức ủng hộ một hệ thống chính trị nào.

Tuy nhiên, tất cả mọi Ki-tô hữu phải ý thức về sứ mệnh đặc biệt của mình trong cộng đoàn chính trị, bằng cách phát biểu ý thức trách nhiệm nơi chính mình và tận tâm phục vụ công ích. Trong việc trần thế, họ biết dung hòa quyền bính với tự do, chống lại bất công, độc tài và áp bức trong khi chấp nhận ý kiến của đối phương. Với danh nghĩa công dân dưới sự hướng dẫn của lương tâm Kitô giáo, họ không những không được phép khoanh tay khi phải tranh đấu cho công lý, mà còn có quyền hoạt động chính trị vì đó là môi trường mênh mông và đăc thù của những giáo dân có trách nhiệm, có tinh thần yêu nước, có khả năng đóng góp tài trí vào đời sống công cộng, vào tổ chức đời sống chính trị, có ý chí dấn thân tranh đấu trên chính trường, vì hạnh phúc, vì công lý, và vì chính lý tưởng bác ái của Tin Mừng.

Tuy nhiên về danh nghĩa “cộng đoàn chính trị và Giáo Hội, mỗi bên với lãnh vực riêng của mình, đều độc lập và tự trị. Giáo Hội không hề cấu kết với bất cứ hệ thống chính trị nào, vì Giáo Hội vừa là dấu chỉ vừa là bảo đảm cho tính cách siêu việt của con người”. Mặc dầu xử dụng những thực tại trần thế, Giáo Hội không được phép cậy nhờ các đặc ân của thế quyền, Hơn thế, Giáo Hội cũng sẽ từ chối việc xử dụng một số những quyền lợi đã được hưởng một cách chính đáng khi thấy rằng việc xử dụng các quyền lợi đó làm cho người ta nghi ngờ về lòng thành thực muốn làm chứng nhân của mình. Như theo sát Phúc Am, Giáo Hội phải cổ võ và nâng cao bất cứ điều gì là chân thiện mỹ trong cộng đồng nhân loại. Vì thế, Giáo Hội phải tôn trọng quyền con người, tôn trọng sự bình đẳng nam nữ, tôn trọng tín ngưỡng, tôn giáo của người khác, và cùng với mọi người xây dựng một thế giới không còn người bóc lột người, không còn chiến tranh áp bức, và thực thi yêu thương những người hay những cộng đoàn nghèo khổ90.

Với tình yêu Chúa, người giáo dân sẽ hiệp thông với mọi người thiện chí, không phân biệt tôn giáo, chính kiến, để xây dựng một công đoàn nhân loại trong tình huynh đệ. Ngày nay, nhìn nỗi thống khổ bao la đang đè nặng trên đa số nhân loại và để cổ võ sự công bình, đồng thời cổ võ tình yêu Chúa đối với người nghèo khổ ở khắp nới, sự tham gia của người tín hữu chân thành và trung trực trong lãnh vực chính trị quốc gia hay quóc tế là một điều cao đẹp và cần thiết. Trong lãnh vực này, giáo dân có tự do và quyền hạn để hoạt động, đồng thời tự đảm lấy trách nhiệm. Các vị chủ chăn phải nhìn nhận và tôn trọng sự tự do chính đáng của giáo dân trong lãnh vực trần thế91.

 Giáo dân tham gia chính trị vì Phúc Am và vì Công ích. “Công ích là lý do tồn tại, là ý nghĩa và là căn bản pháp lý cho cộng đoàn chính trị. Công ích nói đây bao gồm tất cả những điều kiện của đời sống xã hội ; nhờ những điều kiện này, cá nhân, gia đình và đoàn thể có thể triển nở trọn vẹn và dễ dàng hơn” 92

Dân Chúa mong HĐGMVN là tiếng nói của một trách nhiệm tập doàn, với những hoạt động tập thể để phục vụ dân Chúa ở Việt Nam và đồng thời đóng góp xây dựng quê hương. Chúng tôi mong HĐGMVN hiện diện nhiều hơn trong các lãnh vực văn hóa, nhất là xã hội, chăm lo cho người nghèo, những người bị quyền lực áp chế những người không có tiếng nói, để đại diện cho Giáo Hội của Chúa Ki-tô “đến để phục vụ, chứ không để dược phục vụ”. Nhiều đồng bào không công giáo cũng ước mong như vậy, khi thấy HĐGM nhiều nước góp tiếng nói trong những hoàn cảnh xã hội đôi khi phức tạp và nhiêu khê hơn ở Việt Nam.

 Xin đan cử một thí dụ: Ngày 20 tháng 2 năm 2008, nhân dịp họp kỷ niệm 30 năm của Ủy ban Quỹ quốc tế phát triển nông thôn (Conseil des gouverneurs du Fonds international de développement agricole (FIDA-IFAD), ĐGH. Bênêđictô XVI đã phát biểu: Mục tiêu xóa nghèo cực và xóa đói cũng như cổ võ bảo đảm lương thực và phát triển nông thôn không phải là một mục tiêu quá tham lam hay không thực tế, trái lại trong bối cảnh hiện nay là những đòi hỏi cấp bách cho toàn thể cộng đồng thế giới”….

Ngài phàn nàn rằng “nhiều khi lao động của nông dân các nước đang phát triển đang bị khai thác một cách ngấu nghiến, và sản phẩm của họ chỉ nhằm những thị trường xa xôi, không đem lại lợi nhuận cho cộng đồng địa phương”. ĐGH cầu mong “thế giới bảo đảm cho mọi người, bây giờ và trong tương lai, được chia sẻ một cách công minh những hoa lợi của nông nghiệp, trong sự cộng tác và đồng trách nhiệm giữa các nước giầu và các nước nghèo”. 93

 

 

Phần III

Hiệp thông với Giáo Hội toàn cầu

Giáo Hội Việt Nam có trên 350 năm lịch sử. Năm 2010, Giáo Hội Việt Nam minh chứng mình đã trưởng thành, chẳng những trên giấy tờ, trên lý thuyết, nhưng trong thực tế.

Từ 1960, sau Công Đồng Vatican II, nhất là từ sau 1980, Giáo Hội Việt Nam đã và đang có những hoạt động liên đới với thế giới bên ngoài.

Hiệp thông với Tòa Thánh và với Hội Đồng Giám mục nhiều nước trên thế giới.

Từ 1990, có 16 phái đoàn Vatican sang “thăm hữu nghị” Việt Nam: đó là một biến cố hãn hữu trong Giáo Hội toàn cầu. Theo chúng tôi được biết, không có Giáo Hội địa phương nào được chiếu cố đặc biệt như vậy. Có lẽ nguyên nhân là những lý do chính trị: có phải vì Việt Nam chưa bang giao chính thức với Vatican? Nhưng bao nhiêu quốc gia khác cũng không có sứ thần Tòa Thánh, cũng chưa có bang giao với Tòa Thánh, nhưng không có những phái đoàn ngoại giao thường niên như ở VN (?).

Trừ một vài trường hợp đặc biệt, phái đoàn của Vatican thăm Việt Nam thường gồm các giáo sĩ không cao cấp thuộc Bộ ngoại giao Tòa Thánh và Bộ Loan báo Tin Mừng cho các dân tộc. Theo chương trình được công bố, phái đoàn là khách chính thức của Nhà Nước, và những cuộc gặp gỡ, trao đổi chính thức với Hội Đồng Giám Mục (hay thường với Ban Thường Vụ HĐGMVN) theo chúng tôi hiểu có lẽ không phải là mục tiêu chính yếu. Vì từ trên hai chục năm nay, nghĩa là từ thời “mở cửa”, các Giám mục Việt Nam vẫn liên lạc tương đối thường xuyên với Vatican, hoặc trong các cuộc hành hương ad limina” vẫn diễn ra đều đặn 5 năm một lần, hay trong các Đại Công nghị, hoặc trong các cuộc thăm viếng Roma của các giám mục, nhất là qua Giáo Luật quyển II, doạn IV, điều 449 (về quyền Tòa Thánh liên quan đến việc thiết lập HĐGM); điều 450, 450, 452-458 (về thành phần, nội qui và chương trình hoạt động); nhất là điều 451, 456 459 liên quan đến những mối liên hệ với Tòa Thánh94.

HIỆP THÔNG và CÔNG GIÁO & DÂN TỘC thường xuyên cho biết Giáo Hội Việt Nam có rất nhiều liên hệ với các Giáo Hội chẳng những ở Á châu, mà cả với nhiều Giáo Hội Âu châu, Mỹ Châu, Úc châu.

Hoàng Vinh Sơn

TPHCM, Lễ Tro 25.2.2009


Chú thích:

1 Cộng đồng Dân Chúa Việt Nam cử hành Năm Thánh 2010, trong Nguyệt san Công giáo và Dân tộc số 160, tháng 4 năm 2008. tr. 41-52. Trích Nội quy, tr.43.

2 Tài liệu đã dẫn, tr. 42.

3 Tài liệu đã dẫn, tr. 45.

4 Tông Hiến Sacrae disciplinae leges, trong Bộ Giáo Luật 1983, bản dịch của Hội Đồng Giám mục Việt Nam, 2007, tr.13.

Bộ Giáo Luật ban hành ngày 25 tháng 1 năm 1983. có hiệu lực từ ngày thứ nhất mùa Vọng 1983, Văn phòng Thư ký HDGMVN xuất bản và phát hành năm 2007 với Imprimatur ngày 25-8-2006, và được Hội Đồng Giám mục Việt Nam giữ bản quyền. Trong bài này, tác giả sẽ dùng bản dịch chính thức này, trừ khi bản dịch không diễn tả hết tư tưỡng hay mục đích của Nhà lập luật, hay hiệu lực của điều luật. Lúc đó chúng tôi xin phép dịch khác và trích thêm bản chính tiếng la tinh.

5 Tông Hiến Sacrae disciplinae leges, trong Bộ Giáo Luật 1983, tr.14.

6 Tông Hiến Sacrae disciplinae leges, trong Bộ Giáo Luật 1983, tr.14

7 Nguyt san Công giáo và Dân tộc s 160, tháng 4 năm 2008. tr. 41-52. Trích Ni quy, tr. 44-45:

1) Đại Hội Dân Chúa Việt Nam là cơ hội cho HĐGM kêu gọi mọi thành phần Dân Chúa chung lòng chung sức với hàng Giáo phẩm xây dựng một Giáo Hội hiệp thông, Giáo Hội tham gia, và Giáo Hội vì loài người, nhằm tạo thuận lợi cho việc thi hành cách có hiệu quả hơn sứ vụ yêu thương và phục vụ của Chúa Ki-tô, trong cộng đồng dân tộc cũng như cộng đồng thế giới hôm nay.

2)“Đại Hội Dân Chúa Việt Nam không những nhằm thể hiện sự hiệp thông trong Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam, song còn nhằm cổ võ mọi thành phần trong Cộng đồng dân Chúa Việt Nam tại các Châu lục, linh mục, tu sĩ, giáo dân, tích cực tham gia thi hành sứ vụ của Giáo Hội vì sự sống của mọi người anh em đồng bào và đồng loại”.

8 Trích “Thư HĐGMVN gửi Cộng đồng dân Chúa về việc chuẩn bị Năm Thánh 2010”

9 Theo Hiến chế Lumen Gentium, 23, mỗi Giáo Phận là một Giáo Hội địa phương liên kết với Giáo Hội hoàn vũ “bằng sợi giây hợp nhất, yêu thương và an bình”. Sự hiệp thông trong tình bác ái đó, hiện hữu từ Giáo Hội sơ khai, một Giáo Hội duy nhất thánh thiện và tông truyền, nay được nhắc lại trong Công Đồng Vatican II, và trong Giáo Luật 369.

10 Isaia, 55, 1-2.

11 Lumen Gengium, 21, 24; GL. 375.

12 Lumen Gentium, 27;. Sắc lệnh Christus Dominus, 11-15

13 Ít nhất bằng cử nhân về Kinh Thánh, Thần học, Giáo luật hay thông thạo các môn đó (GL.378),

14 Chính nhẽ, chúng tôi phải ghi “linh mục và phó tế ” như trong các văn kiện thông thường của Giáo Hội. Nhưng so sánh với các Giáo Hội trên thế giới, các Giáo Phận Á châu nói chung và Việt Nam nói riêng, số phó tế vĩnh viễn rất hiếm hoi.

Năm 2007, ở Âu châu có 10.926 phó tế và 198.279 linh mục, tỷ lệ 5,51%.

Mỹ châu 231.722 phó tế và 120.995 linh mục, tỷ lệ 17,95 % ;trong khi đó ở Á châu có 141 phó tế và 50.053 linh mục, tỷ lệ 0,28%. Chúng tôi không biết con số phó tế vĩnh viễn ở VN. Nếu có, không thấy được nhắc tới trong các văn kiện, và trong Thống kê của các Giáo Phận.

Chúng ta được biết, sứ vụ phó tế vĩnh viễn có từ thời các Tông Đồ, và rất phồn thịnh thời Giáo Hội sơ khai. Trong Giáo Hội công giáo Roma, sứ vụ mới dần dần biến mất. Công Đồng Vatican II phục hồi chức phó tế vĩnh viễn, không phải để tăng linh mục, nhưng để vĩnh viễn làm sứ vụ “phục vụ dân Chúa”. Phó tế vĩnh viễn trong Giáo Hội la tinh đuợc phép có gia đình. Sứ vụ của Phó tế vĩnh viễn, ngoài công tác mục vụ và giảng dạy, chú trọng nhiều đến công việc bác ái, nâng đỡ người bất hạnh (Lumen Gentium, 29; motu proprio Sacrum diaconatus ordinem ngày 18.6.1967; GL..1031 § 3)

15 Lumen gentium, 28; Christus Dominus, 7.

16 Ignatius, Thư gửi Cộng đoàn Magnesio 7, 1-2 ; thư gửi Cộng đoàn Êphêsô 3, 1 (xem thêm E.Finck, Le ministère de l’Unité, trong Eglises chrétiennes et Épiscopat, 1966, tr. 114-124.

17 Thư 14,4.

18 Sắc lệnh Christus Dominus, 11.

19 Không đến nỗi phải tự thú công khai, như một Giám Mục nọ trong một Hội nghị Toàn quốc:” Tôi là tướng không quân, một mình tôi phải làm hết …” Có lẽ vì thiếu tin tưởng đối với các linh mục, nên trong thực tế, ở một vài Giáo phận, cha Tổng đại diện địa phận ngài chỉ có vị chứ không có thực, cha quản lý địa phận chỉ không có, hay có nhưng không được quản lý tiền bạc, Hội đồng tài chính chưa bao giờ được nhắc tới mặc dầu Giáo Luật đòi hỏi, linh mục đoàn hình như chỉ được coi như vườn cảnh Tòa Giám Mục (theo một linh mục tâm sự)…

20 GL. 522. Giáo Luật 1983 nhấn mạnh đến danh từ stabilitas (cố định) và bỏ danh từ inamovilitas (bất di bất dịch) trong Giáo Luật 1917, 454. Cha xứ phải có thời gian “cố định ” để biết con chiên, để cùng với giáo xứ thực hiện những dự án dài hạn trong lãnh vực thiêng liêng cũng như trong lãnh vực vật chất. Tuy nhiên, Giáo Luật để Hội Đồng Giám Mục mỗi nước quyết định thời gian “cố định” dài ngắn bao nhiêu (GL. 522), thí dụ ở Bắc Phi, Bỉ, Canada, Pháp, Thụy sĩ, một số Nước Thái Bình Dương là 6 năm, ở một số nước khác Ấn Độ Dương là 5 năm. Thời gian do Hội Đồng Giám Mục ấn định có nghĩa là linh mục được quản xứ trong thời gian hạn định đó, nhưng nếu không có lệnh thuyên chuyển thì vẫn được tại chức một khóa nữa.

21 Chúng tôi được biết, có Giám Mục”treo chén” linh mục bằng miệng trong một cuộc họp, hay đôi khi đổi xứ linh mục như một hình phạt mà không tuyên bố lý do …

22 Lumen Gentium 37; GL. 212, 213; GL. 212 § 2;.

23 Lumen Gentium, 35-36

24 Sắc lệnh “de Activitate missionali Ecclesiae”, 15,19. 41

25 Hiến chế Gaudium et Spes, 29-3; GL. 222 § 2.

26  Hiến chế Gaudium et Spes, 76; GL. 222 § 2; 227.

27 Chúng tôi nhận thấy ở một số địa phương, giáo dân vẫn chưa được hưởng các quyền lợi và tự do của con cái Chúa, con phải đeo “ách” không do Giáo Luật đặt ra, nhưng do những truyền thống xa xôi, lỗi thời, hay do cha xứ tự ý đặt ra. Thí dụ giáo hữu không được tham dự cỗ cưới của người thân trong gia đình nếu người đó không thi hành bí tích hôn phối trong nhà thờ…; giáo hữu đôi khi bị cha xứ “công khai rút phép thông công, nghĩa là không được phép xưng tội rước lễ (sic) vì không vâng lời cha xứ.

28 Chúng tôi sẽ bàn đến vai trò của giáo dân trong môi trường xã hội và chính trị, trong đoạn sau.

29 Xin phép trích một vài dòng của bài phát biểu của một chuyên viên đồng thời là Chủ tịch Ủy Ban Kế hoạch của Hội đồng Tông đồ giáo dân Hàn Quốc:

Chủ nghĩa độc đoán nơi các linh mục.

Nhiều tín hữu giáo dân nói rằng, thái độ độc đoán của các linh mục là một trong những lý do gây nên mất sự hòa điệu giữa giáo sĩ và giáo dân (…) Tất cả các cuộc thăm dò nói trên rõ ràng đã cho thấy mối ưu tư của người giáo dân về những thái độ độc đoán của giáo sĩ - và chỉ ra rằng đó là điều đầu tiên cần được điều chỉnh trong đời sống linh mục tại Hàn quốc (…) Kể từ thập niên 1970, một số linh mục đã tham gia vào phong trào dân chủ và công bằng xã hội tại đất nước này. Sự đóng góp của các linh mục ấy trong việc thiết lập công bình xã hội và cải thiện tình hình tôn trọng nhân quyền đã được công chúng và giới trí thức Hàn quốc đánh giá rất cao – nhưng đồng thời sự kiện ấy cũng dấy lên những ý kiến thuận nghịch ngay trong nội bộ Giáo Hội ” (xem Hiệp Thông số 8/2000, tr. 311-315).

Gần đây một giáo dân, đi dự lễ trong một nhà thờ nọ, thấy cha xứ “khóa các cổng nhà thờ”, để giữ giáo dân trong vòng hai tiếng đồng hồ ! Thú thực, tác giả những dòng này không tin rằng sự kiện đó có thể xảy ra ở VN đầu thế kỷ 21 (!)”

30 Lumen gentium, 44

31 Thành viên các Dòng tu, tuy là giáo dân, nhưng có một vị trí pháp lý, được coi là một “bậc sống” (status vitae), tuy không thuộc về cơ chế phẩm trật (Lumen gentium, 44), nhưng thuộc về đời sống và sự thánh thiện của Giáo Hội (GL. 207 §2), vì là một bậc sống được thánh hiến bằng lời khấn thực hiện các lời khuyên của Phúc Âm, sống khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục (GL.573).

32 Giáo Hoàng là Bề trên tối cao chính thức của tất cả các Dòng tu. Ngài là Bề Trên đối nội và đối ngoại của các Dòng tu thuộc quyền Giáo Hoàng. Những Dòng này do Ngài thiết lập hay phê chuẩn qua một nghị định hợp thức, và quản trị qua các Bộ của Tòa Thánh. Phần nhiều Dòng thuộc quyền Giáo Hoàng được nhiều đặc ân miễn chuẩn, nhưng trong nhiều hoạt động bên ngoài, họ cũng phải tùng phục GMGP (GL.589).

33 Dòng thuộc Giáo phận trái lại do GMGP thiết lập (erectus) bằng một nghị định hợp thức - chứ không sáng lập - sau khi đã tham khảo ý kiến của Tòa Thánh (GL.579; 589).

34 Lumen gentium, 45 ; Sắc lệnh Christus Dominus, 35 ;Tông huấn Vita consecrata 1996 của ĐGH Gioan-Phaolô II, số 48-49; GL. 591; 593; 680.

35 GL. 678 -679.

36 Xin phép dịch “cura”quan tâm, thay vì “chăm sóc” theo bản dịch Bộ Giáo Luật 1983.

37 J.Beyer, De novo jure circa vitae consecratae instituta et eorum sodales quaesita et dubia, Periodica de re canonica 75,1986, p. 547.

38 Sắc lệnh Christus Dominus, 33-34.

39 Tông huấn Vita consecrata. 48; Sắc lệnh Ad gentes, 18.

40 Sắc lệnh Ad gentes, 18; Gioan-Paulô II, thông hiệp Redemptoris Mater, 69.

41 Trong hầu hết các Giáo phận có Dòng Mến Thánh Gíá. Không phải vô tình mà các nữ tu các dòng bản xứ thường được gọi là “bà mụ (mẹ như Thiên Mụ), bà phước, dì phước”, còn các nữ tu các dòng nhập từ ngoại quốc được gọi là Sơ (Xơ). Còn các nam tu, nếu là linh mục thì gọi là “cha”, nếu không được gọi là “phe=frère”.

42 Thí dụ Giáo phận Saigon-Hochiminh, có 16 Dòng nam, 36 Dòng nữ, 10 Tu hội nam, 11 Tu hội nữ. Hầu hết các Dòng Tu và Tu hội nam và nữ gốc ngoại quốc đều có mặt ở Saigon (xứng đáng là “Vatican” ViệtNam).

43 Gần đây một Linh mục giáo sư nói đến những căn bệnh trầm kha trong Giáo Hội Việt Nam như “đạo sinh hoạt, đạo kính sợ, đạo luân lý, đạo thiêng liêng, đạo thực dụng…. Bệnh sáo ngữ, bệnh hình thức, bệnh đoàn lũ, bệnh chủ quan nơi tầng lớp giáo sĩ” (Trần trọng Viễn OP, Những căn bệnh trầm kha trong đời sống đức tin Công giáo tại Việt Nam, Chân lý 2004).

Tác giả nói đến đời sống đạo, nhiều khi lệch lạc, vì tinh thần Vatican II chưa thấm nhuần vào đời, vì ảnh hưởng cung cách giữ đạo kiểu Trung Cổ vẫn còn quá nặng trong mối liên quan Giáo sĩ và giáo dân, chức sắc và tín hữu.

44 Thông điệp “Deus Caritas est” của ĐGH Benedictô XVI.

45 Lumen Gentium 23; Christus Dominus 37-38;

46 Chỉ cần so sánh Sách Kinh Địa phận Hải Phòng, Thái Bình, Bùi Chu với Sách Kinh địa phận Hà Nội, hay Sách Nhật Tụng miền Nam.

47 Cả trong những kinh được sáng tạo gần đây. Thí dụ trong Năm Thánh Truyền Giáo 2001, người ta ngạc nhiên thấy mỗi giáo phận có một kinh Năm Thánh khác nhau (!). Về vấn đề danh từ, không hiểu tại sao ở Việt Nam vẫn “Giáo Hoàng hơn Giáo Hoàng” khi dùng danh từ “truyền giáo” trong khi sau Công Đồng Vatican II, danh từ đó đã được đi vào dĩ vãng. Bộ Truyền Giáo nay thành “Bộ Truyền Giảng (hay loan báo) Phúc âm cho các dân tộc

48 Sắc lệnh Christus Dominus về Giám mục số 37,38.

49 Giáo Luật 449§2. Nền tảng pháp lý của HĐGM được Sắc lệnh Christus Dominus, số 38 chỉ định, tông thư Apostolos Suos 21.5.1998 quy định những nét chính, và Giáo Luật 1983, số 447-459

50 Trong mỗi nước, có những hiệp hội công giáo do tín hữu thành lập để làm các công tác tôn giáo, tông đồ hay từ thiện bác ái. Những hiệp hội ấy muốn thành pháp nhân công, hoạt động với danh nghĩa công giáo phải được giáo quyền “thiết lập” để có giá trị pháp lý. Những hiệp hội này có thể gồm các thành phần khác nhau (giáo sĩ, tu sĩ, linh mục). Muốn được hoạt động với danh nghĩa “công giáo”, phải được giáo quyền tức là HĐGM ra một nghị quyết “thiết lập”. Khi được chính thức công nhận, HĐGM cũng chuẩn y Nội quy (GL. 314), công nhận cấp lãnh đạo (GL.315), công nhận hay chỉ định linh hướng (GL. 317), kiểm tra tài chính (GL.319) vv. Các hiệp hội tư (GL.321-326) trái lại hoàn toàn độc lập với giáo quyền không hoạt động với danh nghĩa công giáo, không là một pháp nhân trong Giáo Hội, không thuộc diện hiệp hội công nói ở trên (GL. 312-320. Tuy nhiên, một hiệp hội tư có thể được công nhận nếu đáp ứng được những điều kiện của một hiệp hội công (GL.322 § 1). Giáo Hội khuyến khích, ủng hộ và nâng đỡ các tổ chức giáo dân hoạt động trong lãnh vực trần thế, với tinh thần Phúc Âm, (thí dụ công đoàn, tổ chức văn hóa, xã hội) để một mặt bảo vệ quyền tự do của người tín hữu, mặt khác tránh lẫn lộn đạo đời. (Gaudium et Spes 43). Tuy nhiên Giáo Luật (GL.327-329) cũng chân thành khuyến khích họ đưa “đạo vào đời” và cho trần tục được đượm đà tình Chúa.

51 Xem Hiệp thông số 11(năm 2002), tr. 52-70 về NỘI QUY các Ủy Ban đặc trách của HĐGMVN. Hàng năm, các Ủy Ban của HĐGMVN có báo cáo hoạt động và thành quả (thí dụ xem HIỆP THÔNG SỐ 37, (tháng 10-11), 2006, Tr.36-87; số 43, (tháng 9-10.2007), tr.14-89; số 49 (tháng 9-10. 2008) tr.11-84. }

52 Các đòi hỏi hiểu biết về giáo lý nhiều khi quá khác biệt, khiến người trẻ coi việc khảo giáo lý trước ngày cưới như việc “các cha hành giáo dân”.

53 Xem GL.1439.

54 Xem GL.447.

55 Không biết mấy ai biết danh tính của Chủ tịch HĐGM ? Nhiều người vẫn nghĩ rằng chủ tịch phải là Đ. Hồng Y ! Trong một cuộc họp trí thức công giáo có người than phiền là “các Đức Cha cứ kêu là thiếu nhân sự, nên đặt những vị thiếu chuyên môn làm công tác trong HĐGM, trong khi đó linh mục, tu sĩ, giáo dân không thiếu người có tài ! ”

56 Có bao nhiêu độc giả? Và có người hỏi: “nội dung có đáp ứng vai trò của một cơ quan ngôn luận chính thức của các Giám mục” ? Theo thiển nghĩ, Hiệp thông chưa đóng vai trò “hiệp thông”, chưa giúp tín hữu kể cả linh mục, tu sĩ, hiểu những vấn đề quan trọng trong Giáo Luật hiện hành..

57 Năm 2006

58 Hiến chế “Sacrosanctum concilium” về phụng vụ, 122-124.

59 Thánh lễ phải là bữa tiệc phục sinh để thánh hoá giáo dân (Sacrosanctum concilium,11, 47), nhưng nếu bàn thờ xa vời vợi, thì khó diễn tả ý nghĩa của bàn tiệc !

60 Hiến chế “Sacrosanctum concilium”, 44-45 ; GL. 1216. Công Đồng đề nghị thành lập Ủy ban đó trong Giáo phận cũng như trong mỗi quốc gia, có sự tham gia của các chuyên gia, kể cả giáo dân lỗi lạc trong các nghệ thuật đó.

Hiện nay trào lưu” hoành tráng”, trào lưu “bê tông” tràn vào Việt Nam như sóng vỡ bờ, không hiểu Ủy ban Phụng Tự và nghệ thuật thánh đã có chính sách ngăn ngừa những vụ phá phách các nhà thờ cổ rất đẹp, rất có giá trị về nghệ thuật ? đã nghiên cứu, lượng giá và hướng dẫn các Giáo phận, các giáo xứ trong việc xây cất chưa ?

61 Sacrosanctum concilium,119.

62 Lumen gentium. 14 – 16.

63 Giáo lý công giáo, số 846-847.

64 Lumen gentium, 15, 16.

65 Đọc Mth.12,46-49, Mc.3,31-35; Lc 19-21. Công Đồng, trong Hiến Chế Lumen Gentium (66-67), khuyến cáo những hình thức hay những quyết đoán có thể làm cho một số anh em Ki-tô-giáo coi là quá xa chân lý đức tin.

66 Lumen gentium, 37,

67 Xin đan cử một vài thông điệp về sự đóng góp, dấn thân trong lãnh vữc xã hội: Rerum novarum (Leon XIII); Quadragesimo anno (PiôXI); Menti nostrae (Piô XII); Pacem in terris (Gioan XXIII); Populorum progressio (Phaolô VI); Centesimus annus (Gioan Phaolô II); Deus caritas est (Benedictô XVI)….

68 Trong các nước này, giáo dân là những người điều hành các tổ chức bác ái và liên đới giúp phát triển nhân danh Giáo Hội, thí dụ ở Pháp, tổ chức Comité Catholique contre la Faim et pour le Développement (CCFD), Conférence St.Vincent de Paul, Secours Catholique, Coopération Missionnaire vv. Những tổ chức này đồng thời cũng là những tổ chức phi chính phủ (ONG) cùng với các tổ chức không công giáo khác tranh đấu bảo vệ nhân quyền, nâng đỡ phát triển, chống chiến tranh, chống đói nghèo, vì công lý và bác ái.

69 Lumen gentium, 32-33.

70 Benedictô XVI, thông điệp Deus caritas est, 25 a, b.

71 Gioan Phaol lô II, tông thư Pastores Gregis (10.10.2003), số 69.

72 “Hiện nay, toàn cầu hóa không có ích gì. Toàn cầu hóa không có ích gì cho người nghèo trên giới. Không có ích gì cho môi sinh. Không có ích gì cho việc ổn định kinh tế thế giới” Đó là tiếng than của Joseph E. Stigl.itz, giải Nobel Kinh tế, cựu phó chủ tịch Ngân Hàng thế giới, tác giả cuốn Globalisation and Its Discontents, N.Y.2002 = La grande Désillusion” (GD), Paris 2002, tr. 279. Tác giả, cố vấn kinh tế của tổng thống B.Clinton, là người chứng kiến chính sách bóc lột của tư bản thế giới, chính sách áp dụng ách nô lệ kinh tế trên các dân nghèo, đã từ chức phó chủ tịch Ngân Hàng thế giới, để tố cáo những bất công của lực lượng tư bản. Xem thêm cùng tác giả, The Roaring Nineties, NY. 2003. Toàn cầu hóa kinh tế là “toàn cầu hóa bần cùng”, như giáo sư Michel Chossudovsky minh chứng trong cuốn “La Mondialisation de la Pauvrete”, Montréal 1998.

73 Ba cơ quan kinh tế là Ngân Hàng thế giới (WB = BM), quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF = FMI) và Tổ chức Thương mại thế giới (WTO = OMC) là ba con bạch tuộc ngự trị trên thị trường thế giới: “trong các nước nghèo, giá phải trả rất cao: môi trường thiên nhiên bị tàn phá, tham nhũng tràn ngập đời sống chính trị, sự thay đổi quá nhanh chóng không cho các nước thích nghi về phuơng diện văn hóa… ” (Stiglitz La grande Désillusion, tr.33) Trong hầu hết các nước chậm phát triển, người nghèo càng ngày càng tăng, càng nợ nần và mức thu nhập càng ngày càng xuống đến mức phá sản. Cuộc khủng hoảng hiện nay (2008-2009) là con đẻ của một chính sách tư bản chỉ chú trọng đến lợi nhuận, mà quên con người, nhất là những con người nghèo cực, tức hơn một nửa nhân loại.

74 Theo Hiến pháp, số 59, “bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí ”, nhưng hiện nay, cha mẹ các em vẫn phải trả học phí và các lệ phí khác, vì Hiến Pháp đã được sửa …

75 Xem Liên Hội Đồng Giám Mục Châu Á lần thứ VIII (8/8/2004), số 13.

76 Báo chí đang nóí rất nhiều tin về nguy hiểm này, dư luận phẫn uất, nhưng vẫn tiếp tục tái diễn năm này sang năm khác. Thí dụ Tuổỉ trẻ 14/6/2008: 70 container rác công nghiệp nhập cảng Hải Phòng; Tuổi trẻ 12/8/ 2008: 20 container rác về tới cảng Đà Nẵng; Tuổi trẻ 21/7/2008: 434 tấn phế liệu chứa rác độc hại nhập Đà Nẵng; Tuổi trẻ 12/8/ 2008: Thêm 20 container rác về tới Đà Nẵng; Pháp Luật 12/8/ 008, 434 tấn phế liệu chứa rác độc hại tới cảng Đà Nẵng v.v.. Theo Báo Tuổi Trẻ 04/03/2009: hàng ”núi” thùng phuy được bày bán tại nhiều quận huyện TP.HCM “một số không ít thùng phuy có nguồn gốc từ các công ty sản xuất, kinh doanh thuốc sát trùng, thuốc trừ sâu, diệt cỏ... Nguy hiểm hơn, những thùng phuy này được các cơ sở mua bán súc rửa không đúng qui trình kỹ thuật... ”Thùng phuy mua từ các cơ sở này, nếu dùng đựng thực phẩm, nước uống thì nguy cơ bị nhiễm hóa chất độc hại là khó tránh khỏi”, theo các lực lượng kiểm tra.

77 Một tỉ dụ khi chúng tôi đang viết những dòng này. Theo Vietnam News ngày 25 tháng bảy 2008, trong 7 tháng đầu năm 2008, VN nhập 51,9 tỷ $USD, và xuất 36,9 tỉ US$. Theo ông Lê Minh Thuy, Tổng cục Thống Kê Nhà Nước, đến cuối năm 2008, tổng số nhập sẽ lên tới 87 tỉ US$, và xuất chừng 66,5 tỉ US$, Nhập siêu sẽ tới 20 tỉ US$. nghĩa là Việt Nam sẽ mắc nợ thêm 20 tỷ, trong khi nông dân bán thóc gạo mỗi năm không tới 4 tỷ … Mà nợ thì không sớm thì chầy phải trả!.

78 Hiến Pháp Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, số 3.

79 Hiến chế Lumen gentium của Vatican II, 36.

80 Hiến chế Gaudium et Spes của Vatican II, 63, 66

81 Xin trích ý kiến của ĐGM Nguyễn văn Khảm trong bài Quan điểm Công giáo về trách nhiệm của Gio Hội trước các vấn đề x hội - VietCatholic News (20 Feb 2009 14:15) Hội thảo Quốc tế “Trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường”: “Nếu theo dõi các tuyên bố của các Hội Đồng Giám Mục Công Giáo tại nhiều quốc gia, sẽ thấy các ngài lên tiếng về hầu hết các vấn đề xã hội, kinh tế và chính trị như chạy đua vũ trang, hòa bình tại Trung Đông, môi sinh… và những vấn đề khác. Những sự kiện trên khiến nhiều người đặt vấn đề: Tại sao Giáo Hội lại lên tiếng về các vấn đề xã hội, kinh tế và chính trị? Sứ mạng của Giáo Hội lại chẳng phải là sứ mạng thiêng liêng sao? Khi can thiệp vào các vấn đề xã hội như thế, liệu Giáo Hội có thi hành đúng chức năng của mình không? Có gây tranh chấp với chính quyền dân sự không? Phải làm gì để giải quyết?”

Sau khi trình bày học thuyết xã hội của GHCG, tác giả kết luận:

“Là những người Việt Nam và là cộng đoàn các môn đệ của Chúa Giêsu, Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam lấy vui mừng và hi vọng, ưu sầu và lo lắng của người dân Việt làm vui mừng và hi vọng, ưu sầu và lo lắng của chính mình, và không có gì là của con người mà không gieo âm hưởng trong lòng Giáo Hội. Trong những năm qua, ý thức đó đã thúc đẩy Giáo Hội góp phần giải quyết các vấn đề xã hội trong khuôn khổ luật pháp cho phép, và còn muốn góp phần nhiều hơn nữa trong tương lai [Giáo Hội tại Việt Nam đã tích cực góp phần trong những chương trình xóa đói giảm nghèo, giáo dục trẻ đường phố, chăm sóc những người có HIV/AIDS… Giáo Hội còn muốn tham gia tích cực hơn nữa vào lãnh vực y tế và giáo dục học đường; tuy nhiên, cho đến nay, khuôn khổ luật pháp vẫn chưa cho phép Giáo Hội tham gia vào những lãnh vực trên]. Đồng thời Giáo Hội cũng ý thức rằng để góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, Giáo Hội cần tiến hành cuộc đối thoại đa diện: đối thoại với Chính quyền là những người có trách nhiệm tổ chức, ổn định và xây dựng xã hội; đối thoại với các tôn giáo vốn là nền móng những giá trị đạo đức của dân tộc; đối thoại với văn hóa dân tộc là nguồn của những giá trị nhân văn đích thực và ngày nay đang có nguy cơ bị xói mòn; đối thoại với con người, nhất là người nghèo vốn vẫn chiếm đa số trong cộng đồng dân tộc. Cuộc đối thoại đó đòi hỏi Giáo Hội lắng nghe để có thể hiểu được tâm tư khát vọng của người dân, tâm tư được thể hiện bằng lời và nhiều khi bằng cả sự im lặng! Giáo Hội cũng ý thức rằng đây không phải là cuộc đối thoại dễ dàng do những thành kiến của lịch sử cũng như do sự khác biệt trong cách nhìn và cách giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, Giáo Hội xác tín rằng đó là con đường tốt nhất phải đi để xây dựng sự hợp tác chân thành và đích thực nhằm xây dựng một xã hội mỗi ngày tốt đẹp hơn và xứng với phẩm giá con người hơn” …

82 Chỉ nam Apostolorum Successores, Città del Vaticano 2004, tr. 215-219..

83 Pastores gregis, Tông thư của ĐGH Gioan Phaolô II, 10.10.2003. Có thể xem Đề Cương Thượng Hội Đồng Giám mục thế giới năm 2000, đăng trong Bản Tin Hiệp Thông số 1 năm 1998.

84 Tông thư Pastores gregis, số 69.

85 Tông thư Pastores gregis, số 67. Xem Thông điệp Deus caritas est 32-39; Hoàng Vinh Sơn, Chúa là Bác Ai (Thực hiện Thông điệp “Deus caritas est”, TPHCM 2006, tr. 14-59.

86 Thánh Augustino phát biểu một câu rất thâm thúy: “Nếu không có công lý thì Nhà Nước là gì nếu không là một phường trộm cướp lớn” ?(remota itaque justitia quid sunt regna nisi magna latrocinia ?). Xem Deus Caritas est, số 26-29.

87 Thư Roma, 13, 4- 5: ”Chính quyền là người thừa hành của Thiên Chúa, để giúp bạn làm điều thiện (…), Vì thế cần phải phục tùng, không phải vì sợ bị phạt, nhưng còn vì lương tâm”; Hiến chế Gaudium et Spes, 74.4.

88 Gaudium et Spes, 74.5

89 Gaudium et Spes, 76, 2-3.

90 Xem Gaudium et Spes, 75-76, 88-89

91 Xem Lumen gentium, 37; Gaudium et Spes, 75. ĐGH Gioan Phaolô, trong tông huấn về giáo dân Christifideles laici, 42, ca tụng những giáo dân dấn thân phục vụ đồng bào trong lãnh vực chính trị và lãnh nhận gánh nặng của trách nhiệm này.

92 Gaudium et Spes, 74; Christifideles laici, 42.

93 Xem Zenit 20.2.2008

94 Theo GL..451, các quy chế riêng của HĐGM phải được Tòa Thánh chuẩn y, trong đó có dự kiến các phiên họp khoáng đại của HĐGM, Ban Thường vụ, Văn phòng tổng thư ký, cũng như các chức vụ và các Ủy Ban. Sau mỗi phiên Đại Hội, Chủ tịch HĐGM phải gửi về cho Tòa Thánh bản phúc trình và các Sắc lệnh để Tòa Thánh chuyên nhận (GL. 456). Mỗi khi khởi xướng những hoạt động hoặc đề cập đến những vấn đề có tính cách quốc tế, HĐGM phải tham khảo ý kiến của Vatican (459).



 

 

Hoàng Vinh Sơn
Về đầu trang

Những bài khác:
 
Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri

5 phút/ngày cho Lời Chúa 

<<Tháng 9 Năm 2010>>
HaiBaNămSáuBảyCN
  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
24
 
25
 
26
 
27
 
28
 
29
 
30
 
   


Trung Tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu

 



Bác Ái Xã Hội Caritas Đà Nẵng



Quỹ Giáo Dục Phạm Ngọc Chi

 

 



Chương Trình Căn Nhà Đồng Tâm

 



Tập Tin Mục Vụ

 

 


  Xem Video 
Cuộc đời của ĐGH GioanPhaoLo II
Đức Thánh Cha tiếp kiến chung các Giám Mục Việt Nam(Sáng ngày27-6-2009)
Gioan Phaolô II: Muối và Ánh Sáng (2/2)
Lễ Đăng quang của ĐGH Bênêđictô XVI
ĐTC công bố năm Linh mục
Xem tiếp

© 2009 Tòa Giám Mục Đà Nẵng
Địa chỉ: 156 Trần Phú - Tp Đà Nẵng
Số Điện Thoại : 0511.3826628 Fax: 0511.3871856
Email: admin@giaophandanang.org
Được thiết kế và phát triển bởi nhóm thiết kế Website TGM Đà Nẵng