Chúa Hiển Linh

LỄ HIỂN LINH

(Is 60,1-6; Ep 3,2-3.5-6; Mt 2,1-12)

5-1-2014

Hạt giống Tin Mừng được gieo vãi từ năm 1533 trên đất Trà Lũ, Bùi Chu tới nay là 481 năm (1533-2014). Thế nhưng, hạt giống Tin Mừng sinh hoa kết quả cho tới ngày nay phải kể từ khi hai cha Buzomi và Cavalho đặt chân lên đất Đà Nẵng ngày 18-1-1615 tới nay là 399 năm (1615-2014).

Trong suốt 399 năm, những thánh quả đáng ghi nhớ nhất là :

  1. Năm 1615 có ngôi nhà thờ đầu tiên ở Đà Nẵng.
  2. Ngày 29-7-1658 có hai giám mục đầu tiên với hai giáo phận :

    Đàng Ngoài (Miền Bắc) và Đàng Trong (Miền Nam).

    Sau 43 năm kể từ năm 1615

  1. Năm 1668 hai linh mục Việt Nam đầu tiên :

    Giuse Trang và Luca Bền của Đàng Trong.

    Sau 53 năm kể từ năm 1615.

  1. 1933 Đức giám mục Việt Nam đầu tiên :

    GB Nguyễn Bá Tòng.

    Sau 318 năm kể từ năm 1615

  1. Năm 1960 Trở thành Giáo Hội trưởng thành, không trực thuộc Bộ

   Truyền Giáo

    Sau 345 năm kể từ năm 1615.

  1. 1976 Hồng y Việt Nam đầu tiên : Giuse Trịnh Như Khuê.

    Sau 361 năm kể từ năm 1615.

Còn một thành quả rất quan trọng là bản dịch Kinh Thánh bằng tiếng Việt ?

Trong cái chết của thầy giảng Anrê có kể rằng : trước khi bắt thầy Anrê, ông tổng trấn Quảng Nam đã bắt một ông già cũng có tên là Anrê. Khi xét xử thì ông chỉ lên án thầy Anrê, còn ông già Anrê thì ông tha. Ông tổng trấn nói với cha Đắc Lộ : “Đối với ông lão, ông tha chết, vì thương hại các con cái của ông lão” (Trương Bá Cần, Lịch Sử Công Giáo Việt Nam, T.I, trang 89).

Ông già Anrê là ông Anrê Sơn. Ông được rửa tội năm 1584. Ông là ông trùm của xóm đạo Thanh Chiêm, Phước Kiều ngày nay. Ông là nhà nho uyên bác. Ông có 2 người con tên là Emmanuel và Louis. Louis là linh mục Louis Đoan, người Việt thứ ba, chịu chức năm 1676. Ba cha con ông già Anrê Sơn đã dịch sách Kinh Thánh phần Ngũ Thư thành 4000 câu thơ bằng tiếng Việt (Đinh Trọng Uyên, Đinh Bá Truyền, Dinh Trấn Thanh Chiêm, 2010, trang 96-97).

Năm 1627 cha Đắc Lộ được sai ra Đàng Ngoài (Miền Bắc) giảng đạo. Ba năm sau năm 1630 cha bị đuổi ra khỏi Đàng Ngoài. Trong số những người theo đạo có công chúa Catarina, chị của Trịnh Tráng. Bà đã làm thơ bằng tiếng Việt kể lại từ việc Thiên Chúa sáng thế đến Chúa Giêsu xuống thế (Bùi Đức Sinh, Giáo Hội Công Giáo Ở Việt Nam, T.I, trang 132-133).

BTM : Để biết Chúa, Kinh Thánh hay giáo lý là yếu tố rất quan trọng. Thánh Giê-rô-ni-mô nói : “Nếu không đọc Kinh Thánh thì không biết Chúa, cũng giống như không biết những chữ cái ABC thì không biết đọc chữ

Ngôi sao dẫn các nhà chiêm tinh đến thủ đô Giê-ru-sa-lem rồi biến đi. Các ông phải vào hỏi vua Hê-rô-đê. Vua Hê-rô-đê hỏi các thương tế và kinh sư. Họ trả lời : “Tại Be-lem, miền Giu-đê, vì trong sách ngôn sứ có chép rằng : Phần ngươi, hỡi Be-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi  vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2,5).

Sau khi được lời Kinh Thánh xác thực, ngôi sao lại xuất hiện dẫn các nhà chiêm tinh tới Be-lem. Như thế, nhờ Kinh Thánh các nhà chiêm tinh đã tìm thấy Chúa, đã được gặp Chúa.

Trong mọi nhà thờ ngày nay : một bên là bàn thờ Kinh Thánh, một bên là bàn thờ Thánh Thể.

Công đồng Va-ti-ca-nô II viết : “Giáo Hội luôn tôn kính Thánh Kinh như chính Thân Thể Chúa, nhất là trong Phụng Vụ Thánh, Giáo hội không ngừng lấy bánh ban sự sống  từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như bàn tiệc Mình Chúa Kitô để ban phát cho các tín hữu”.

Thư chung HĐGMVN 2013 đã kêu gọi : “Trong năm 2014 sắp tới, chúng ta hãy cùng nhau Phúc Âm hóa đời sống gia đình và thúc đẩy gia đình tham gia tích cực vào sứ vụ loan báo Tin Mừng” (số 5).

Gia đình không đọc Phúc Âm thì gia đình làm sao được thánh hóa bằng Phúc Âm và gia đình có khả năng loan báo Tin Mừng.

 ———————————–

LỄ HIỂN LINH

6-1-2013

Cha Phao-lô Phạm Khắc Khoan, cha sở xứ Phúc Nhạc, Phát Diệm. Khi đi dâng lễ tại họ Đông Biên, cha bị bắt. Dầu đã 66 tuổi, quan Nam Định vẫn xử tàn nhẫn với cha. Ban đêm chân bị cùm, ban ngày bị xiềng, rồi bị tra tấn nhiều lần. Dầu đau đớn khổ sở, cha vẫn giữ vững đức tin. Cha không bước qua Thánh Giá chối đạo.

Quan nói : “Tôi muốn tha ông, chỉ mong ông bước qua thập giá”.

Cha tỏ bày lập trường : “Đã ba năm trong tù, tôi đã suy nghĩ kỹ rồi. Càng nghĩ tôi càng xác tín hơn, càng cương quyết giữ vững đức tin cho đến chết”.

Quan nói : “Thế ông không muốn sống à ?

Cha đáp : “Mọi sinh vật đều muốn sống, huống chi con người có lý trí. Ai biết giá trị cuộc sống mà chẳng ham sống. Thế nhưng, với người theo đạo Chúa, chết thân xác đời này, nhưng sẽ có sự sống đời đời trên thiên đàng. Do đó, chúng tôi không sợ chết vì đạo Chúa”.

Quan hỏi : “Ông tin có thiên đàng hả ? Ai bảo ông có thiên đàng ?

Cha trả lời : “Đó là chuyện đương nhiên. Như vua thường ban thưởng cho các trung thần, thì Chúa trời đất chẳng nhẽ không ban thưởng cho các tôi trung phục vụ cho đến chết sao ? Nơi tưởng thưởng đó chúng tôi gọi là thiên đàng”.

Quan lại hỏi : “Nghe ông nói có lý, nhưng ai đã dạy ông biết có Thiên Chúa ?

Cha đáp : “Chẳng cần phải ai dạy. Chính trời đất vũ trụ là cuốn sách mở ra dạy ta bài học đó. Nhìn ngắm những công trình kỳ diệu thiên nhiên, tức khắc phải nhận ra có Đấng sáng tạo và gìn giữ. Chúng tôi gọi Đấng Tạo Hóa là Đức Chúa Trời, và chúng tôi tôn thờ Người”.

Dùng bất cứ biện pháp nào cũng không làm lay chuyển đức tin của ông già 69 tuổi, quan Nam Định truyền điệu ngài ra pháp trường Bẩy Mẫu, Nam Định chém đầu. Ngày hồng phúc tử đạo của cha là ngày 28-4-1840 thời vua Minh Mạng.

BTM  : Cha Phao-lô Phạm Khắc Khoan nói với quan : “Nhìn ngắm những công trình kỳ diệu thiên nhiên, tức khắc phải nhận ra có Đấng sáng tạo và gìn giữ”, còn các nhà chiêm tinh trong BTM thánh lễ trả lời vua Hê-rô-đê : “Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đên bái lạy Người” (Mt 2,2).

Ông Diderot nhà triết học Pháp ở thế kỷ 18 nói : “Mắt và cánh của con bướm đủ đánh đổ một người không tin”.

Ngắm trời nhìn đất biết có Thiên Chúa; nhưng để biết Thiên Chúa là ai, phải đọc Kinh Thánh. Ngôi sao không dẫn các nhà chiêm tinh đến thẳng Be-lem. Đến Giê-ru-sa-lem ngôi sao biến đi, để các nhà chiêm tinh hỏi vua Hê-rô-đê. Vua Hê-rô-đê hỏi các thượng tế và kinh sư. Các thượng tế và kinh sư trả lời : “Tại Be-lem,miền Giu-đê, vì trong sách ngôn sứ có chép rằng : Phần ngươi, hỡi Be-lem, miền đất Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en, dân Ta, sẽ ra đời” (Mt 2,3-4).

Được Lời Chúa, ngôi sao hiện ra và tiếp tục dẫn các nhà chiêm tinh tới hang đá Be-lem.

Bđ1 : Các nhà chiêm tinh là những người ngoại giáo đi tìm Chúa. Ngôn sứ I-sai-a  vào thê kỷ 8 trước Chúa giáng sinh, đã nói tiên tri : “Giê-ru-sa-lem hỡi…Các dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước” (Is 60,3).

Bđ2 : Thấy dân ngoại tìm biết Chúa, thánh Phao-lô sung sướng viết ở thư gửi các tín hữu Ê-phê-sô trong bđ2 : “Nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3,6).

Việt Nam chúng ta được nghe Tin Mừng, được biết Chúa từ năm 1533. Lúc đó các thừa sai không biết tiếng Việt, nên không sinh hoa kết quả. Phải đợi đến năm 1615, 82 năm sau, hai cha dòng Tên đến Đà Nẵng rao giảng. Từ đó, Tin Mừng của Chúa lớn lên và sinh hoa kết quả cho tới ngày nay là 399 năm (1615-2014), còn 1 năm nữa là chẵn 400 năm.

———————————

LỄ HIỂN LINH

2-1-2011

 Công giáo Huế : Thứ năm tuần này, ngày 6-1, lễ bế mạc Năm Thánh tại thánh địa La Vang, Huế. Là dịp chúng ta nhìn lại những ngày đầu tiên hạt giống Tin Mừng được gieo vãi trên đất Cố Đô Huế.

Các cha dòng Tên đến Đà Nẵng, ngày 18-1-1615. Năm 1625, 10 năm sau, hai cha Pi-na và Đắc-Lộ ra Huế. Hai cha ở nhà bà Minh Đức Vương Thái Phi.

Vĩnh Điện là trấn thứ hai của chúa Nguyễn Hoàng chồng bà. Chắc chắn nhiều lần bà đã tới Vĩnh Điện. Vĩnh Điện là trụ sở và nhà nguyện. Cha Pina đã hoạt động ở đó. Cha Pi-na, người giỏi tiếng Việt đầu tiên. Bà đã nghe cha giảng. Cha đã rửa tội cho bà năm 1625 tại Huế.

Cha Đắc Lộ đã viết về bà như sau : “Bà là chỗ nương tựa của Giáo Hội mới chớm nở. Gương mẫu và thế lực của bà đã trợ giúp rất nhiều trong công cuộc truyền giáo cho người ngoại và đã làm cho những người chịu phép rửa thêm vững đức tin… Bà đã cất một ngôi nhà nguyện rất đẹp trong dinh của bà, và bà đã bảo vệ ngôi nhà nguyện đó qua cả những thời kỳ cấm cách gắt gao. Hằng ngày tối sớm bà đến đọc kinh cầu nguyện. Giáo dân trong vùng được tự do ra vào không một ai ngăn cấm. Với những lời quở trách, khuyên bảo khôn khéo, bà đã đưa được nhiều người có địa vị, có thế giá trong phủ chúa trở lại, trong số đó có nhiều người thuộc hoàng gia” (Nguyễn Hồng, Lịch Sử Truyền Giáo Ở Việt Nam, tập I, trang 78-79).

BTM : Bà Minh Đức chẳng khác gì những nhà chiêm tinh, những đạo sĩ, những Ba Vua trong BTM thánh lễ hôm nay. Bà là những nhà chiêm tinh đi tìm Chúa và đã được gặp Chúa.

Các nhà chiêm tinh đi tìm Chúa vì “nhìn thấy ngôi sao” của Chúa (Mt 2,2). Hơn nữa còn được các thượng tế, các kinh sư cho biết nơi Chúa sinh ra qua lời Kinh Thánh : “Hỡi Be-lem, miền đất Giu-đa, nươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Gu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2,5).

Bà Minh Đức biết Chúa nhờ lời giảng dạy và đời sống đạo đức của cha Pina và các cha.

Bđ1 : Bđ1 kể lại lúc dân Do Thái từ kiếp lưu đày Ba-by-lon trở về. Thấy đất đai bị dân ngoại xâm chiếm, Đền Thờ bị tàn phá, dân Do Thái chán nản, buồn bã. Ngôn sứ I-sai-a vỗ về an ủi, và tiên báo : “Đứng lên, bừng sáng lên, Giê-ru-sa-lem hỡi, vì ánh sáng của ngươi đến rồi… Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước” (Is 60,1.3).

Các nhà chiêm tinh và bà Minh Đức là dân ngoại đã đi về phía ánh sáng, về ánh bình minh.

Bđ2 : Người Do Thái ngày xưa được Thiên Chúa sai các tổ phụ, các ngôn sứ đến dạy dỗ, để biết Chúa, để yêu Chúa. Còn ngày nay chính Thiên Chúa sai Đức Giê-su, Con Ngài đến dạy dỗ. Thánh Phao-lô trong thư Ê-phê-sô bđ2 viết : “Trong Đức Giê-su Ki-tô và nhờ Tin Mừng , các dân ngọai cũng được thừa kế gia nghiệp với người Do Thái” (Ep 3,6).

Sau khi được biết Chúa năm 1625, bà Minh Đức đã làm cho nhiều người biết Chúa. Chỉ hai năm sau, năm 1627, khi cha Pi-na và Đắc Lộ ra Huế, đã rửa tội 811 người tại ngôi nhà nguyện của bà.

Tin Mừng của Chúa mà bà gieo vãi còn sinh ra những hoa thơm qủa ngọt trên đất Huế. Trong số 118 vị thánh tử đạo, 16 vị đổ máu trên đất Huế.

Huế sản sinh những anh tài cho đất nước, cho Giáo Hội như ông Ngô Đình Diệm, Đức hồng y Nguyễn Văn Thuận.

Nhất là Huế được Đức Mẹ hiện ra an ủi trong thời Tây Sơn bắt đạo. Ngày nay trở thành Trung Tâm Thánh Mẫu của Giáo Hội Việt Nam.

————————–

LỄ HIỂN LINH

3-12- 2010

Lễ hôm nay ngày xưa gọi là lễ Ba Vua, nhưng ngày nay gọi là lễ Hiển Linh, lễ Chúa Giê-su tỏ mình cho dân ngoại biết ngài là thần linh, là Thiên Chúa.

Ngày xưa gọi là lễ Ba Vua, vì dựa vào lời ngôn sứ I-sai-a trong bđ1 : “Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Ma-đi-an và Ê-pha” (Is 60,6).

Người ta cho là Ba Vua, vì căn cứ vào ba lễ vật : vàng, nhũ hương và mộc dược.

Trong BTM thánh Mt kể : “Có mấy  nhà chiêm tinh từ phương Đông đến” (Mt 2,1)., tức là nhưng tư tế của nước Ba Tư, nước I-rak, I-ran ngày nay. Các tư tế ngày xưa thường am tường khoa thiên văn.

Ngày xưa cũng như ngày nay, những người nổi tiếng được ví là những sao. Các cầu thủ đá giỏi gọi là sao. Các nữ tài tử đóng phim giỏi cũng gọi là minh tinh, là sao. Còn ngôi sao của Chúa Giê-su do lời loan báo của ông Bi-lơ-am : “Một vì sao xuất hiện từ Gia-cóp, một vương trượng trỗi dậy từ Ít-ra-en” (Ds 24,17).

Lễ Hiển Linh hôm nay muốn nói với chúng ta bốn bài học sau đây :

1- Trẻ sơ sinh nằm trong máng cỏ vừa là người phàm, vừa là tư tế, vừa là Thiên Chúa và Ngài chết vì ta. Vàng ám chỉ vua, nhũ hương ám chỉ tư tế, mộc dược ám chỉ sự chết.

2- Tuy sinh ra là người Do Thái, nhưng Ngài là vua của mọi dân nước, không phân biệt dân nước nào.

3- Muốn biết Chúa, phải tìm hiểu và đọc Kinh Thánh.

4- Các nhà chiêm tinh là ngoại đạo thì hăm hở đi tìm Chúa; còn chúng ta là người có đạo, đạo gốc, có khi thờ ơ, nguội lạnh.

——————–

LỄ HIỂN LINH

4-1-2008

Trước khi mặc khải cho các nhà chiêm tinh, Chúa Giê-su Hài Đồng đã mặc khải cho các mục đồng, cho ông già Si-mê-ôn và bà An-na.

Các mục đồng dầu là người Do Thái cũng bị người đồng hương coi là hạng bỏ đạo, chẳng khác gì người ngoại đạo, vì suốt ngày ở ngoài đồng, không đi dự lễ ngày sa-bát, không đọc sách Luật.

Sách Thánh không cho biết gì về ông già Si-mê-ôn. Có lẽ ông là một người cô đơn, vô gia đình. Đối với người Do Thái, một người không có gia đình, không con cái, thì thuộc hạng người bị khinh bỉ. Tuy nhiên, ông là người đạo đức. Sách Thánh khen : “Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Ít-ra-en” (Lc 2,25).

Còn bà An-na cũng thuộc hạng người vô danh tiểu tốt. Sách Thánh cho biết : “Bà đã nhiều tuổi. Từ khi xuất giá, bà đã sống với chồng được 7 năm, rồi ở góa đên nay đã 84 tuổi” (Lc 2,36-37). Như vậy, bà có chồng mà không có con. Bà cũng thuộc hạng người bị xã hội khinh chê. Tuy nhiên bà đạo đức, “không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, đêm ngày thờ phuợng Thiên Chúa” (Lc 2,37).

Các mục đồng, ông Si-mê-ôn, bà An-na bị đời khinh khi thì lại được Chúa thương, được Chúa cho gặp Chúa.

Các nhà chiêm tinh hôm nay không phải là người Do Thái, có lẽ họ là người nước I-ran, I-rak ngày nay. Họ là những người ngoại đạo. Người Do Thái rất khinh chê những người ngoại đạo. Song, Chúa lại thương, Chúa lại cho họ được gặp Chúa.

Tại sao ngôi sao không đưa họ đến thẳng Be-lem, mà tới Be-lem thì lặn, làm họ phải vào gặp vua Hê-rô-đê ?

Trong thư Rô-ma, thánh Phao-lô bảo người ngoại là những cành  ô-liu dại, được tháp vào hưởng nhựa từ rễ cây ô-liu thật là dân Do Thái (Rm 11,17).

Hơn nữa người ngoại nhờ xem thiên nhiên trời đất biết có Ông Trời, có Thương Đế, có Thiên Chúa. Nhưng Ông Trời là ai, thì họ không biết. Muốn biết, phải đọc Kinh Thánh. Các nhà chiêm tinh phải tới Giê-ru-sa-lem để đọc Kinh Thánh. Nhờ Kinh Thánh, họ biết Chúa sinh ra ở Be-lem. Họ tới và được gặp Chúa.

Kinh Thánh là phương thế quan trọng để biết Chúa. Trong mỗi nhà thờ đều có hai bàn thờ : một là bàn thờ Thánh Thể, hai là bàn thờ Kinh Thánh.

Thánh lễ nào cũng có hai phần : phần Lời Chúa và phần Thánh Thể. Lời Chúa dẫn đưa tới Thánh Thể. Nên đi lễ trễ, không tham dự phần Lời Chúa, là thiếu một phần quan trọng.

——————–

LỄ HIỂN LINH

8-1-2006

 

Có 4 tác giả viết về cuộc đời Chúa Giê-su. Đó là thánh Mat-thêu, thánh Mác-cô, thánh Lu-ca và thánh Gio-an. Bốn cuốn sách đó gọi là sách Phúc Âm hay sách Tin Mừng. Trong 4 tác giả, chỉ có hai tác giả viết về cuộc đời thơ ấu của Chúa Giê-su : đó là thánh Mát-thêu và thánh Lu-ca.

Thánh Lu-ca thì kể các chuyện : truyền tin cho Đức Ma-ri-a (1,26-38), Đức Giê-su ra đời, những người chăn chiên đến viếng thăm (2,1-20), Đức Giê-su chịu phép cắt bì (2,21), Tiến dâng Đức Giê-su cho Thiên Chúa (2,22-26), Bài ca An Bình Ra Đi (Nunc dimittis) (2,27-32), ông Si-mê-ôn nói tiên tri (2,33-35), bà An-na nói tiên tri (2,36-38), Đức Giêsu tiếp tục sống ẩn dật tại Na-da-rét (2,39-40), Đức Giê-su ngồi giữa các bậc thầy Do Thái (2,41-50), Đức Giês-su còn sống ẩn dật tại Na-da-rét (2,51-52).

Thánh Mát-thêu thì kể các chuyện : truyền tin cho ông Giu-se (1,18-25), Các nhà chiêm tinh đến bái lạy Đức Giêsu (2,1-12), Đức Giê-su trốn sang Ai-cập và các anh hài bị giết (2,13-18), từ Ai-cập về đất Ít-ra-en (2, 19-23).

Ngày xưa chúng ta gọi là lễ Ba Vua, nay gọi là lễ Hiển Linh, tức là lễ Chúa tỏ mình. Lễ Hiển Linh bắt đầu được cử hành từ các Giáo hội Đông Phương, như ở Alexadria (Ai-cập), nước Sy-ri, nước Pa-lét-tin. Lúc đầu lễ kính nhớ Chúa Giê-su chịu phép rửa. Đó là một trong những biến cố ”Chúa tỏ mình”. Rồi Chúa tỏ mình trong tiệc cưới Ca-na. Khi lễ được phổ biến sang Tây Phương thì lễ chỉ kính nhớ biến cố Ba Vua.

Thánh Mát-thêu viết các ông từ phương Đông đến. Người ta cho rằng các ông thuộc bộ lạc Ma-đi-an. Bộ lạc này cùng với bộ lạc Ba Tư làm thành đế quốc Ba Tư. Bộ lạc Ma-đi-an muốn đánh bộ lạc Ba Tư để chiếm quyền ca trị, nhưng họ thất bại. Từ đó họ bỏ tham vọng chính trị, chuyên lo việc tế tự. Ở nước Ba Tư, bộ lạc Ma-đi-an là bộc lạc tư tế, giống như chi tộc Lê-vi ở nước Ít-ra-en. Họ trở nên những bậc thầy về thuốc, triết lý và chiêm tinh. Với nghề nghiệp tư tế và thiên văn, các ông được gọi là đạo sĩ hay nhà chiêm tinh.

Trong sách Tin Mừng chỉ viết trống rằng : “Có mấy nhà chiêm tinh từ Phương Đông đến Giê-ru-sa-lem”, chứ không nói rõ là ba người. Ba ông vì có ba lễ vật. Ngày xưa người ta còn cho là 12 ông. Người ta cho là ba vua, vì dựa vào lời ngôn sứ I-sai-a trong bài đọc 1 : “Lạc đoàn từng đoàn che rợp đất, lạc đà Ma-đi-an và Ê-pha” (Is 60,6). Là vua vì đi bằng lạc đà.

Người ta đặt tên cho ba vua là Caspar, Melchior và Balthasar. Người ta mô tả ba ông như sau : ông Men-ki-o  già, tóc nâu, râu dài, mang lễ vật vàng, ; ông Ban-tha-sa da đen, râu lún phún, mang mộc dược; ông Cát-pa trẻ, không có râu, da đỏ, mang nhụ hương

 Vàng ám chỉ chức vị vua; nhũ hương ám chỉ chức tư tế; mộc dược dùng để ướp xác chết. Có giai thoại kể rằng : thuở Chúa Giê-su còn là thiếu nhi, ngài đứng ở cửa tiệm thợ mộc của thánh Giu-se, chân đứng trên ghế, lưng dựa tường, hai tay giang ra, mặt trời chiếu vào. Bóng in trên tường giống như người bị đóng đinh trên thập giá. Đưc Mẹ trông thấy bóng hình, lòng Đức Mẹ lo buồn.

Với ba lễ vật, các nhà chiêm tinh chân nhận Chúa Giê-su là vua, là tư tế và chịu đóng đinh trên thập giá.

Ba ông là những nhà chiêm tinh, nên thấy sao lạ mà đoán có vua mới ra đời. Câu chuyện sao lạ xuất phát từ câu chuyện ông Bi-lơ-am trong sách Dân Số. Vua Mô-áp thấy dân Ít-ra-en đánh đâu thắng đó, nên mời ông Bi-lơ-am đến để chúc dữ dân Ít-ra-en. Thiên Chúa bảo ông đừng chúc dữ, song hãy chúc lành. Vua Mô-áp trách, ông Bi-lơ-am nói : “Một vì sao xuất hiện từ Gia-cóp, một vương trượng trỗi dậy từ Ít-ra-en sẽ đập vào màng tang Mô-áp, đánh vỡ sọ các con cái Sết” (Ds 24,17). Sao không những chỉ về vua, còn chỉ về những ai xuất chúng, người ta gọi là “siêu sao”.

Khi các nhà chiêm tinh đến hỏi : “Đức vua dân Do Thái mới sinh hiện ở đâu ?” (Mt 2,2), thì vua Hê-rô-đê triệu với các thương tế và kinh sư đến hỏi . Họ thưa : “Tại Be-lem, miền Giu-đê, vì trong sách ngôn sứ có chép rằng : ‘Phần ngươi hỡi Be-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu là thành nhỏ nhất của Giu-đa,vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2,5-6). Đó là lời ngôn sứ Mi-kha, ngôn sứ rao giảng ở vương quốc Giu-đa, miền Nam, vào thế kỷ 8 trước Chúa giáng sinh.

Như vậy, con đường tìm thấy Chúa, theo thánh Mát-thêu có hai giai đoạn : một là nhìn vạn vật vũ trụ, thiên nhiên; hai là nhờ Lời Chúa.

Giai đọan một là nhìn trời cao, trông xuống đất mà nhận ra có Ông Trời dựng nên trời đất. Giai đoạn hai nhờ Kinh Thánh mới biết Ông Trời là Thiên Chúa.

Thánh Giê-rô-ni-mô, người đã dịch Kinh Thánh từ tiếng Hy-lạp sang tiếng La-tinh đã nói : “Nếu không đọc Kinh Thánh thì không biết Chú, cũng giống như không biết những chữ cái ABC thì không biết đọc chữ.

Câu chuyện các nhà chiêm tinh, thánh Mát-thêu muốn nói rằng : Chúa đã tỏ mình cho dân ngoại biết Chúa. Dân ngoại muốn biết Chúa thì phải nhìn thiên nhiên và đọc Kinh Thánh.

——————

LỄ HIỂN LINH

PH.4-1-2004

Từ để gọi những người từ phương Đông đến thờ lạy Hài Nhi Giêsu cũng chưa thống nhất. Các dịch giả Kinh Thánh Việt Nam vẫn còn dùng các từ khác nhau. Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ thì gọi là “Các Nhà Chiêm Tinh”. Bản dịch Phụng vụ 1972 và cha Nguyễn Thế Thuấn gọi là “Các Đạo Sĩ”. Tất cả đều dịch từ tiếng Hylạp là “ma-gos”, “ma-gi”.

Theo ông Hê-rô-đô-tus, các Magi là một bộ lạc Ma-đi-an. Họ là một trong những thành phần dân chúng của đế quốc Ba Tư. Họ cố gắng lật đổ nhóm người Ba Tư để nắm chính quyền. Sau khi thất bại, họ từ bỏ tham vọng quyền hành chính trị, trở thành nhóm người tư tế, như nhóm Lêvi trong dân Ít-ra-en. Những người Magi trở thành thầy dạy các vua Ba Tư. Ở Ba Tư, người ta không được dâng hiến lễ vật, nếu không có thầy tư tế. Các Magi có tài về thuốc, về thiên văn và về triết học. Họ cũng biết giải thích các giấc mộng. Về sau từ  “magi” bị hạ thấp để chỉ về những người bói toán, đồng bóng …Tiên khởi họ là những người tốt, thánh thiện và biết đi tìm chân lý.

Có giai thoại đã cho rằng con số các nhà chiêm tinh đến thờ lạy Hài Nhi Giêsu là 12 vua. Sau đó căn cứ theo ba lễ vật cho rằng có 3 vua thôi. Vì thế ngày xưa gọi là Lễ Ba Vua. Nay thì gọi là Lễ Hiển Linh. Người ta cũng cho biết ba vua tên là : Cas-par, Mel-thi-or và Bal-tha-sar. Vua Melthior già, tóc mầu nâu, râu dài, mang lễ vật vàng. Vua Caspar trẻ, không có râu, da đỏ, mang nhũ hương. Vua Balthasar da đen, râu lún phún, mang mộc dược.

Các nhà chiêm tinh đi tìm Chúa, nhờ nhìn thấy ngôi sao : “Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người” (Mt 2,2). Ngày xưa người ta tin rằng : khi một ngôi sao lạ xuất hiện là có một đấng vị vọng ra đời. Vua Alexandre của Hy Lạp hay vua Caesar của Rôma sinh ra, ngườt ta cũng nói có sao lạ xuất hiện. Người Hy lạp gọi những người nổi tiếng là sao. Ngày nay cũng vậy, các tài tử nổi tiếng gọi là “minh tinh màn bạc” (ngôi sao sáng của sân khấu); các cầu thủ giỏi gọi là “siêu sao”. Trong nghề bói toán, người ta cũng xem “sao chiếu mệnh” để biết vận mạng con người. Người Do Thái cũng vậy, nên sách Dân Số có lời sấm của Ba-la-am : “Một vì sao xuất hiện từ Gia-cóp, một vương trượng chỗi dậy từ It-ra-en” (Ds 24,17).

Các nhà chiêm tinh theo ngôi sao lạ đi tìm. Ngôi sao lạ không đưa họ tới Belem, mà đưa họ tới Giêrusalem. Tới Giêrusalem, họ hỏi vua Hêrôđê : “Đức vua dân Do Thái mới sinh hiện ở đâu” (Mt 2,2). Vua Hêrôđê đã hỏi các thượng tế và kinh sư . Họ trả lời : “Tại Belem, miền Giuđê” (2,5).  Các nhà chiêm tinh đã tới Belem, dâng lễ vật cho Chúa Hài Nhi : vàng, nhũ hương và mộc dược. Vàng ám chỉ đến vương quyền. Ngày xưa vua Việt Nam cũng mặc áo mầu vàng và cái gì của vua cũng là mầu vàng : ngai vàng. Nhũ hương ám chỉ đến chức tư tế. Mộc dược ám chỉ đến cuộc thương khó của Chúa, vì mộc dược dùng để tẩm liệm người chết.

Các nhà chiêm tinh tìm đến Belem để thờ lạy Chúa thể hiện lời ngôn sứ  I-sai-a trong bài đọc 1 của thánh lễ : “Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước” (Is 60,3). Người ta vẽ ảnh hình các nhà chiêm tinh đi lạc đà là lấy hứng ở câu nói cũng của ngôn sứ Isaia : “Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Ma-đi-an và Ê-pha : tất cả những người từ Sơ-va kéo đến, đều mang theo vàng với trầm huơng và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa” (60,6). Mađian, Eâpha và Sơva là những địa danh của miền Ả Rập. Tên Sơva nhắc đến biến cố bà Sơva đã tìm đến vua Salômôn, để học hỏi sự khôn ngoan, và dâng cúng mọi lễ vật qúi giá. Thật ra, ngôn sứ Isaia chỉ nói về dân Israel vào những năm 537-520. Dân vừa được vua Kyrô của Babylon cho trở về quê hương. Lòng hăng say buổi đầu dần dần tàn lụi. Họ đã nản lòng nhụt chí, khi nhìn đến mảnh đất quê hương bị các dân lân bang ngoại đạo đến ở, đặc biệt là miền Samari. Rồi cảnh thành phố Giêrusalem  qua 50 năm lưu đày bị bỏ hoang, Đền thờ thì bị tàn phá bình địa. Công việc tái thiết cũng đầy vất vả khó khăn. Chính trong hoàn cảnh buồn chán đó, ngôn sứ Iasia đã cất tiếng, để an ủi và khích lệ họ : “Đứng lên, bừng sáng lên, Giêrusalem hỡi, vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu rọi” (60,1); nghĩa là sau những ngày đau thương khó khăn là những ngày huy hoàng vui sướng : “Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ, lòng dạ ngươi hớn hở tưng bừng, vì nguồn giầu sang sẽ đổ về từ biển cả, của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi” (60,5). Đền thờ Giêrusalem không chỉ có người Israel đến bái thờ Thiên Chúa, mà cả muôn dân muôn nước cũng sẽ đến bái thờ. Việc các nhà chiêm tinh, những người ngoại giáo, đến bái thờ Hài Nhi Giêsu là thể hiện lời ngôn sứ Isaia. Ngôn sứ chẳng ngờ lời ngôn sứ được thể hiện trong chính con người Chúa Giêsu.

Trong thư Ê-phê-sô của thánh lễ hôm nay, việc Thiên Chúa tỏ cho dân ngoại biết Người, thánh Phaolô gọi là “kế hoạch ân sủng” : “Hẳn anh em đã được biết về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã ủy thác cho tôi” (Ep 3,2). Thiên Chúa ủy thác cho thánh Phaolô vì Thiên Chúa đã dành ngài cho dân ngoại (Cv 9,15). Thánh Phaolô còn gọi là “Mầu nhiệm của Đức Kitô” : “Người đã mặc khải để tôi biết mầu nhiệm Đức Kitô…Mầu nhiệm đó là : trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại đựoc thừa kế gia nghiệp với nguời Do Thái” (Ep 3,3.6). Việc Thiên Chúa mặc khải cho dân ngoại biết Thiên Chúa, ngày nay ta gọi là “hiển linh”, nghĩa là Chúa Giêsu tỏ hiện thiên tính của Người cho các dân nước. Chính vì thế, chúng ta không còn gọi là Lễ Ba Vua, mà gọi là Lễ Hiển Linh.

Chúng có thể đưa ra câu hỏi : Thiên Chúa tỏ cho mọi người biết Chúa, vậy sao chỉ có một số  ít ngưới biết Chúa, còn đa số chưa biết Chúa ? Có nhiều lý do, nhưng qua câu chuyện các nhà chiêm tinh thánh lễ hôm nay, có thể cho chúng ta biết một số lý do. Chuyện các nhà chiêm tinh tìm Chúa là một cuộc hành trình đức tin. Cuộc hành trình đức tin này có 2 giai đoạn : 1/ nhìn ngôi sao, 2/ nhờ sự chỉ dẫn Kinh Thánh của các thượng tế và kinh sư của vua Hêrôđê.

Cuộc hành trình đức tin của mỗi người cũng thế. Trước hết là nhìn trời mây và vạn vật mà biết có Thiên Chúa; sau đó nhờ Lời Chúa mà biết được Thiên Chúa là ai. Nếu không cần Lời Chúa thì ngôi sao cứ dẫn họ tới thẳng hang đá Belem, chứ  ghé qua vua Hêrôđê làm gì ? Những người lương họ cũng biết Thiên Chúa, vì họ nhìn vũ trụ mà biết có “Ông Trời” . Nhưng họ chưa biết Chúa Giêsu là vì họ chưa được nghe và đọc Lời Chúa. Thánh Phaolô viết trong thư Rôma : “làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin ? Làm sao họ tin Đấng họ không đựơc nghe ? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng ? Làm sao mà rao giảng, nếu không được sai đi ? Như có lời chép : Đẹp thay bước chân những sứ giả loan báo Tin Mừng” (Rm 10,14-15). Như vậy, người Việt Nam tất cả đều biết Chúa, nhưng không đến thờ lạy Chúa, là vì họ chưa được nghe chúng ta rao giảng Lời Chúa.

Năm nay Giáo hội Việt Nam mời gọi mọi người giáo dân ý thức và chăm lo cho việc truyền giáo. Lễ Hiển Linh hôm nay là cơ hội thuận tiện để chúng ta suy nghĩ, cầu nguyện và dân thân trong việc truyền giáo.

Linh mục Nguyễn Trung Thành

Pin It on Pinterest